Tại sao mùa vọng chỉ có 4 tuần?

15-12-2020 4,827 lượt xem

Tại sao mùa Vọng chỉ gồm 4 tuần, đang khi mùa Chay kéo dài đến 6 tuần, và mùa Phục sinh 7 tuần, thưa cha?

Thực ra nói rằng mùa Vọng gồm 4 tuần thì không đúng. Phải nói rằng mùa Vọng gồm 4 Chúa nhật, và có thể kéo dài từ 3 tuần cho đến 4 tuần, tùy Chúa nhật thứ nhất mùa Vọng bắt đầu sớm hay muộn. Vào năm 2000, mùa vọng bắt đầu ngày 3/12, và Chúa nhật thứ 4 mùa Vọng rơi vào ngày 24 tháng chạp (áp lễ Giáng sinh), cho nên năm ấy mùa Vọng chỉ có 3 tuần. Dù sao, mùa Vọng chưa phải là mùa Phụng vụ ngắn nhất trong năm, bởi vì mùa Giáng sinh còn ngắn hơn nữa, bắt đầu từ lễ Chúa Giáng sinh cho đến Chúa nhật liền sau lễ Hiển linh, với thời gian thay đổi tùy năm: năm 2002 kéo dài 20 ngày, nhưng năm trước đó (2001) thì chỉ có 14 ngày.

Mùa Vọng gồm 4 Chúa nhật chứ không phải là bốn tuần. Nhưng mà tại sao chỉ có 4 Chúa nhật mà không phải là 5-6, hoặc là 2-3?

Hiện nay mùa Vọng chỉ gồm có 4 Chúa nhật. Nhưng mà trong quá khứ đã có lúc mùa Vọng kéo dài 6 Chúa nhật và cũng có lúc chỉ có 3 Chúa nhật. Tại sao như vậy? Để hiểu rõ điều này, chúng ta cần phải đi ngược lên dòng lịch sử, vào những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo.

Trong những thế kỷ đầu tiên, lễ trọng đại nhất trong năm Phụng vụ là lễ Chúa Phục sinh. Dần dần, chung quanh lễ này người ta thiết lập một thời kỳ chuẩn bị gọi là Mùa Bốn Mươi (quadragesima), nhắc nhớ 40 ngày tĩnh tâm cầu nguyện của Chúa Giêsu trên sa mạc, cũng như của các đại ngôn sứ khác (Môsê, Êlia) trước khi tiếp xúc với Thiên Chúa. Đặc biệt thời gian “Bốn mươi ngày” giúp cho các dự tòng chuẩn bị lãnh nhận các bí tích khai tâm vào đêm Vọng Phục sinh. Đó là nguồn gốc của mùa Chay (trong nguyên ngữ là 40 ngày) kéo dài 6 tuần lễ. Lễ trọng Phục sinh kéo dài 50 ngày (nghĩa là lễ Ngũ tuần), tưởng niệm biến cố Chúa Thánh thần được ban cho Hội Thánh như hoa trái của Chúa Phục sinh. Đó là nguồn gốc của mùa Phục sinh, kéo dài 7 tuần lễ. Tóm lại, chu kỳ Phục sinh đã thành hình ngay từ những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo rồi.

Như vậy mùa Vọng mới xuất hiện hay sao?

Sánh với mùa Chay và mùa Phục sinh thì quả thực là mùa Vọng còn mới mẻ. Trước hết nên nhắc lại rằng trong ba thế kỷ đầu, lịch Phụng vụ chỉ mừng lễ Chúa Phục sinh. Lễ Chúa Giáng sinh xuất hiện chậm hơn, vào giữa thế kỷ IV. Và dần dần, hoạ theo lễ Phục sinh được chuẩn bị với một Mùa 40 ngày và kéo dài thêm 50 ngày, thì lễ Chúa Giáng sinh cũng có một thời gian chuẩn bị và một thời gian kéo dài. Khác một điều là thời gian chuẩn bị và kéo dài không đồng nhất trải qua không gian và thời gian.

Điều đó có nghĩa là gì, thưa cha?

Nói rằng “không đồng nhất trải qua không gian” có nghĩa là không phải hết mọi nơi đều có một thời kỳ chuẩn bị lễ Giáng sinh. Cụ thể là ngày nay, các Giáo hội Đông phương không biết đến mùa Vọng. Như thế là mùa Vọng thuộc về truyền thống La-tinh chứ không phải của toàn thể Giáo hội phổ quát (đây là một điều khác với chu kỳ Phục sinh). Còn nói rằng “không đồng nhất trải qua thời gian” có nghĩa là ngay cả bên Tây phương, cách thức điều hành mùa Vọng không đồng nhất trải qua các thế kỷ. Năm 380, Công đồng Saragoza (Tây-ban-nha) truyền cho các tín hữu phải tham dự Thánh lễ từ ngày 17 tháng 12 cho đến lễ Hiển linh. Có người coi đây là tiền lệ của mùa Vọng, kéo dài 3 tuần lễ.

Thực ra, vài sử gia cho rằng mục tiêu của thời gian 3 tuần lễ này là chuẩn bị lãnh Bí tích Thánh Tẩy vào lễ Hiển linh mà thôi. Phải chờ đến thế kỷ sau (thế kỷ V), mới thấy vài nơi bên Pháp và bên Bắc Ý bắt đầu du nhập thời kỳ 6 tuần lễ chuẩn bị lễ Giáng sinh, nghĩa là dài như mùa Chay. Mùa Vọng mang tính cách thống hối, với ba ngày giữ chay trong tuần (thứ hai, thứ tư, thứ sáu). Thậm chí có nơi bắt đầu mùa Vọng từ lễ Thánh Martinô (10 tháng 11), từ đó có tên “Mùa Chay Thánh Martinô” (quadragesima S.Martini). Đến khi mùa Vọng được du nhập vào Rôma thì Đức giáo hoàng Grêgôriô Cả rút số Chúa nhật mùa Vọng xuống còn 4. Tuy vậy ngày nay tại giáo phận Milanô bên Italia, theo nghi điển Thánh Ambrôxiô, mùa Vọng vẫn còn kéo dài 6 tuần.

Bốn Chúa nhật Mùa Vọng có ý nghĩa gì?

Trước khi trả lời câu hỏi này thì cần phải tìm hiểu ý nghĩa của mùa Vọng đã. Trong tiếng Việt, “vọng” có nghĩa là “mong chờ, ngóng nhìn”. Chờ cái gì? Thường thì người ta hiểu là chờ lễ Chúa ra đời; nhưng hiểu như vậy thì không đúng lắm. Nếu chỉ nhấn mạnh tới sự chờ đợi mừng lễ thì mùa Chay cũng đáng gọi là mùa Vọng, xét vì nó là sự chờ đợi lễ Chúa Phục sinh. Thực ra tên gọi trong tiếng La-tinh, adventus không phải là “vọng”, nhưng là “đến”: đây là mùa Chúa đến. Tuy nhiên, có hai tư tưởng về việc Chúa đến: 1/ Chúa đến trần gian với việc Nhập thể, một biến cố xảy ra cách đây hơn 2000 năm; 2/ Chúa sẽ đến vào thời cánh chung.

Mùa Vọng chuẩn bị mừng lễ Chúa Giáng sinh, cho nên chú trọng biến cố Chúa Nhập thể nhiều hơn, phải không, thưa cha?

Đúng như vậy. Vì thế trước đây, có tác giả giải thích rằng 4 Chúa nhật mùa Vọng tượng trưng cho 4000 năm nhân loại trông mong Chúa ra đời. Ngày nay, không ai nhắc tới tư tưởng đó nữa bởi vì thiếu cơ sở lịch sử. Dù sao, các bài thánh thi và bài đọc trong mùa Vọng đều nói đến hai lần Chúa đến, quen gọi là biến cố Nhập thể và biến cố Quang Lâm. Chủ đề quang lâm được nhấn mạnh hơn trong Chúa nhật thứ nhất mùa Vọng. Còn các Chúa nhật khác thì dành cho biến cố Nhập thể.

Cuộc cải tổ Phụng vụ sau Công đồng Vatican II đã muốn làm nêu bật điều này qua các bài đọc Sách Thánh trong các Chúa nhật mùa Vọng. Chúa nhật thứ nhất đề cao thái độ tỉnh thức đón chờ Chúa Quang lâm. Các Chúa nhật còn lại thì trưng bày những mẫu gương của những người đón chờ Chúa Cứu thế. Chúa nhật thứ hai và thứ ba giới thiệu Thánh Gioan Tẩy giả, người dọn đường cho Chúa đến không những chỉ bằng lời giảng sám hối mà còn bằng chính cuộc đời khổ hạnh và trung trực của mình. Chúa nhật thứ bốn được dành cho Đức Maria. Năm nay, Phúc âm Chúa nhật năm B thuật lại cảnh Truyền tin, và năm C thuật lại cảnh Thăm viếng. Phúc âm các năm A thì kể lại việc thiên sứ hiện đến với Thánh Giuse để giải thích nguồn gốc việc Đức Maria thụ thai Chúa Giêsu, Đấng Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng chúng ta).

Tuy nhiên cũng nên thêm rằng vài bài đọc trong Giờ Kinh Sách nói đến ba lần Chúa đến, chứ không phải chỉ có hai (chẳng hạn như Thánh Carôlô Borrômêô, thứ hai tuần I, và Thánh Bênađô, thứ tư tuần I). Ngoài lần Chúa đến tại Bêlem và lần Chúa đến thời cánh chung, còn lần Chúa đến viếng thăm linh hồn bằng ơn thánh. Chúng ta hãy tỉnh thức mở cửa khi Người gõ, kẻo rằng Người sẽ đi qua mà không trở lại nữa.

Trong 4 Chúa nhật mùa Vọng, linh mục mặc lễ phục màu tím; nhưng mà Chúa nhật thứ ba thì được phép mặc áo lễ màu hồng. Tại sao vậy?

Chúng ta thấy tại nhiều nơi, sắc phục màu tím hầu như biến ra màu hồng rồi. Thật ra, màu tím mà pha với màu trắng thì ra màu hồng, cũng như màu đen mà pha trắng thì ra màu xám. Dù sao đây là vết tích của thời cổ xưa, khi mùa Vọng được quan niệm như thời kỳ thống hối đền tội tương tự như mùa Chay. Chúa nhật thứ tư mùa Chay được đặt tên là “Lætare” (hãy vui lên), bởi vì đã qua được một nửa đường hy sinh khổ chế rồi. Một cách tương tự như vậy, Chúa nhật thứ ba mùa Vọng đánh dấu một nửa chặng đường chuẩn bị cho nên cũng mang tên tương tự “Gaudete”: mừng vui lên). Phụng vụ ngày nay không còn lấy Chúa nhật thứ ba mùa Vọng làm mốc phân chia hai giai đoạn của mùa Vọng, nhưng là trước và sau ngày 17 tháng 12.

Kể từ ngày 17/12 trở đi, nghĩa là một tuần lễ trước ngày áp lễ Giáng sinh, các bản bài đọc trong Thánh lễ và trong Giờ kinh Phụng vụ đều được chọn lựa với mục tiêu là chuẩn bị mừng lễ Chúa Giáng sinh gần kề. Trong Thánh lễ, như đã nói trên, các bài Phúc âm được trích từ những chương đầu của Mátthêu và Luca (quen gọi là Tin mừng thời niên thiếu). Trong Phụng vụ giờ kinh, các Thánh vịnh có điệp ca riêng, đặc biệt là Điệp ca trước kinh Magnificat trong tiếng La-tinh bắt đầu bằng chữ O, gồm những lời khẩn cầu hướng về Chúa Cứu thế, xin Người mau đến. Có người coi Phụng vụ tuần trước lễ Giáng sinh như là sự thâu nhập phong tục đạo đức bình dân tổ chức tuần Cửu nhật chuẩn bị mừng Chúa ra đời. Có người thì lại ví tuần lễ này như là tháng Đức Mẹ thu gọn, xét vì Đức Maria được nhắc đến rất nhiều trong Phụng vụ, được giới thiệu như mẫu gương dọn mình đón Chúa Cứu thế trong thinh lặng cầu nguyện cũng như trong cử chỉ thăm viếng bác ái.

Tưởng cũng nên biết là bài Phúc âm trong tuần lễ chót của mùa Vọng (nghĩa là từ ngày 17 tháng 12) được trích từ những đoạn đầu tiên của Mátthêu và Luca (quen gọi là Phúc âm thời niên thiếu), và biến cố thiên sứ truyền tin cho đức trinh nữ Maria vào ngày 20. Từ thế kỷ VII, nhiều nơi cử hành lễ Truyền tin thứ hai trong năm vào Mùa Vọng, thêm vào lễ trọng vào ngày 25 tháng 3.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, O.P.

Những câu hỏi chung quanh mùa Giáng Sinh

Bài thánh ca Giáng Sinh phổ thông nhất ở Việt Nam bắt đầu bằng những lời “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời”. Có phải Chúa ra đời vào mùa Đông hay không? Nói khác đi Chúa ra đời vào ngày nào, thưa cha?

Tân ước cho ta biết về ngày Chúa Giêsu chịu tử nạn, đó là vào dịp lễ Vượt Qua của dân Do Thái. Nhưng Tân ước lại im lặng về ngày tháng Chúa ra đời. Vì vậy ta không thể nói được chính xác Chúa ra đời vào mùa Xuân, Hạ, Thu, hay Đông. Những bài thánh ca về Giáng sinh nói đến sương tuyết lạnh lẽo, ắt là nghĩ đến lễ Giáng Sinh cử hành vào ngày 25 tháng Chạp dương lịch. Ở Âu Châu thì quả thật là mùa Đông lạnh lẽo. Ở Việt Nam tỉ như một số vùng núi cao như Đà Lạt cũng khá lạnh lẽo, nên bài thánh ca ấy không có chi trái mùa. Nhưng chúng ta thử nghĩ đến các vùng ở miền Nam bán cầu, như Australia, Tân-tây-lan, thì ngày 25 tháng 12 rơi vào chính giữa mùa hè. Lễ xong là họ nhào ra biển để tắm mát. Tại sao phụng vụ cử hành lễ Giáng Sinh vào ngày 25 tháng 12? Có lẽ vì Giáo Hội muốn thánh hoá một ngày lễ ngoại đạo ở Rôma. Thực vậy, người Rôma cử hành ngày sinh nhật của mặt trời (Natale solis invicti) vào ngày này.

Như chúng ta biết rằng trong năm, ngày đông chí là ngắn nhất: xem ra đêm tối đã lấn át mặt trời. Thế nhưng sau đó ngày lại bắt đầu dài ra từ từ; vì vậy mà người ta mừng lễ hồi sinh của mặt trời. Sau khi đế quốc Rôma trở lại Kitô giáo, Giáo Hội muốn thay thế thần mặt trời bằng Đức Kitô, mặt trời soi đường công chính. Chứng tích đầu tiên về việc cử hành lễ Chúa Giáng Sinh vào ngày 25 tháng 12 là một cuốn lịch vào năm 354, tức là giữa thế kỷ IV. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ này thì hầu như các Giáo Hội Kitô đều mừng lễ vào ngày ấy. Tưởng cũng nên biết rằng các Giáo Hội Đông Phương mừng ngày lễ Giáng Sinh vào ngày 6 tháng 1, ngày mà Giáo Hội La-tinh mừng lễ Hiển Linh. Chúng ta không biết Chúa sinh ra ngày nào, còn chị có biết Chúa sinh ra năm nào không?

Năm thứ I theo kỷ nguyên Kitô giáo?

Đúng một phần, quả thực, lịch mà chúng ta đang dùng, dựa trên ngày Chúa Giáng Sinh, coi như là năm thứ I, cho đến ngày nay là năm 1991. Tuy nhiên khi bắt đầu soạn ra lịch ấy, tu sĩ Điônisô Exiguus (sống vào thế kỷ VI) đã tính lầm: ông cho rằng Chúa ra đời vào ngày 25 tháng 12 năm 753 của lịch Rôma, tức là 4 năm trước kỷ nguyên Kitô giáo. Chúng ta phải thụt lùi thêm 2 năm nữa, xét vì khi Hêrôđê hay biết việc Chúa ra đời, đã ra lệnh giết các trẻ em dưới hai tuổi, vì đoán rằng Ngài đã sinh ra trong khoảng thời gian đó. Tóm lại, Chúa Giêsu đã ra đời ít là vào năm thứ VI hay năm thứ V trước kỷ nguyên hiện tại, nghĩa là vào khoảng 1996 năm nay.

Để kỷ niệm mừng Chúa Giáng Sinh, các nhà thờ cũng như tư gia làm một hang đá với các nhân vật có mặt tại Bêlem lúc Chúa ra đời. Có phải Chúa ra đời trong hang đá nơi máng lừa hay không?

Theo thánh Luca, vào thời ấy có một cuộc kiểm tra dân số trong toàn đế quốc Rôma, ai nấy phải về nguyên quán của mình để kê khai. Hoàng đế Rôma không chỉ muốn biết con số nhân đinh của mình, nhưng là muốn biết có bao nhiêu người sẵn sàng thi hành quân sự, cũng như tài sản của họ để đánh thuế. Từ Nazarét có lẽ là quê quán của Maria, Giuse dẫn bạn mình trở về nhà của song thân mình ở Bêlem, một quãng đường dài khoảng 150 cây số. Bêlem (theo nguyên ngữ Do Thái Bethlehem) có nghĩa là “nhà của bánh”. Nhưng theo một số học giả hiện đại, có lẽ phải tìm nguyên ngữ Bit-ilulahama (tiếng Canaan, có nghĩa là nhà của thần Lajamu). Bêlem là một thôn làng nhỏ bé, cách Giêrusalem độ chừng 8 cây số về phiá Nam.

Vào thời ấy dĩ nhiên là không có khách sạn hay quán trọ. Luca nói rằng Giuse không tìm được một chỗ trong một gian phòng dành cho khách. Có lẽ là một gian nhà xép như cái chái, mở ra làm gian dành cho súc vật. Vì vậy mà sau khi hết chỗ, có lẽ ông chủ đưa ra ngoài hiên, nơi dành cho súc vật chăng? Từ thế kỷ II mới có truyền thống do thánh Giustinô kể lại (Dialogo cum Triphone 78,5 viết vào khoảng năm 150) là Chúa Giêsu sinh ra trong một hang đá. Từ đó lưu truyền ấy được tiếp tục như chúng ta thấy trong chứng tích của Origène (Contra Celsum I, 51 viết vào khoảng năm 248) ở thế kỷ sau đó. Ấy là chưa kể đến các Ngụy Phúc Âm Thư. Vào thế kỷ IV hoàng đế Constantinô đã xây một thánh đường tại hang đá mà theo tục truyền là nơi Chúa ra đời. Tuy nhiên tục lệ cất hang đá trong các nhà thờ và tư gia để tưởng niệm biến cố Chúa giáng sinh mới có từ thế kỷ XIII, do thánh Phanxicô khó khăn khởi xướng.

Còn hai con bò lừa ở đâu tới vậy?

Phúc Âm không nói đến. Chi tiết này xuất hiện ở Ngụy Phúc Âm theo thánh Mátthêu. Tác giả này muốn chứng minh rằng việc Chúa ra đời trong hang bò lừa ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia 1,3: “Con bò đã biết chủ mình, và con lừa nhận biết máng của chủ mình”.

Bên cạnh hang đá, không thể nào thiếu ngôi sao. Có phải đó là sao chổi dẫn đường cho Ba Vua đến thờ lạy Chúa Cứu Thế không?

Đúng vậy, ngôi sao đặt bên cạnh hang đá tưởng nhớ đến ngôi sao đã dẫn đưa các nhà đạo sĩ đến thờ lạy Hài Nhi ở Belem. Tuy nhiên thánh Mátthêu không nói rõ ràng đó là ngôi sao chổi. Dù sao theo các học giả Kinh Thánh, sao chổi hay sao nào khác không quan hệ cho bằng ý nghĩa thần học: trong Cựu ước (Ds 24,7) Balaam tiên báo ngày vị cứu tinh ra đời dưới hình ảnh của một ngôi sao chỗi dậy từ nhà Giacóp. Lưu truyền bình dân ở Israel đều nói đến một ngôi sao xuất hiện vào lúc một hoàng đế hay vĩ nhân ra đời.

Một ngôi sao đã dẫn đường cho Ba Vua thờ lạy Chúa, họ có phải là Vua hay các nhà đạo sĩ, nhà chiêm tinh? Tại sao lại có ông da trắng, da vàng và da đen?

Thánh Mátthêu nói là có các “magoi”. Từ này có ý nghĩa hàm hồ: ở Ba Tư, họ thuộc hàng giáo sĩ, nhưng không phải lo chuyện tư tế mà còn lo chuyện bói toán, thiên văn và y khoa nữa. Nhưng khó có thể nói là các nhân vật mà thánh Mátthêu nói tới thực sự từ Ba Tư mà đến. Đối với người thời đó, “Phương Đông” không hẳn là Trung Hoa, Nhật Bản nhưng chỉ là xứ ở phía Đông của bờ sông Hoà Giang, có thể là chính từ miền Ảrập. Về sau các vị ấy được gọi là vua có lẽ vì người Kitô hữu liên tưởng tới Thánh vịnh 72: “Các vua Tharsis và hải đảo sẽ mang lễ phẩm; các vua Ảrập và Saba sẽ mang cống vật …”.

Con số “ba” xuất hiện có lẽ vì gắn liền với ba phẩm vật: vàng, trầm hương, mộc dược. Ba lễ phẩm có ý nghĩa tượng trưng. Vàng là biểu hiệu của vua chúa; trầm hương là biểu biệu của thần linh; mộc dược dùng để tẩm liệm ước xác, biểu hiệu của thân phận con người. Các Giáo Hội Syria và Armeni đếm hơn một chục vị, chứ không phải chỉ có ba vị. Dầu là ba hay là bốn đi nữa, ta vẫn có thể nghĩ rằng họ đều cùng một xứ với nhau.

Về sau, vì muốn làm nổi bật tính cách phổ quát của ơn cứu chuộc, người ta đặt ba vị tượng trưng mầu da của ba đại lục lớn nhất: da trắng (Âu châu), da vàng (Á châu), da đen (Phi châu). Mỹ châu mới được khám phá cách đây 500 năm thôi. Dù sao đi nữa vấn đề chính mà Mátthêu muốn nêu lên là vào lúc Chúa ra đời, trong khi những người ở chính quê hương của Ngài thuộc làu Sách Thánh, nhưng không nhận biết thời giờ cứu độ; còn những người ngoại đạo từ xa xăm đã nhận ra Chúa Cứu Thế và đến thờ lạy Ngài. Biết đâu đó cũng là lối trách móc dành cho chúng ta, những người Kitô hữu?

Bên cạnh hang đá, người ta còn đặt thêm cây thông nữa. Tại sao đặt cây thông? Ở Việt Nam đâu dễ gì kiếm được cây thông, sao không đặt cây chuối, cây cam, cây dừa?

Trong Tân ước không có chỗ nào nói Chúa Giêsu sinh ra gần cây thông. Mặt khác tục lệ làm hang đá để tưởng niệm Chúa ra đời đã có từ thế kỷ XIII, còn tục lệ đặt cây thông thì mới trở nên phổ thông từ thế kỷ XIX, phát xuất từ bên Đức. Tại những nước Bắc Âu, trong mùa Đông, các cây đều trụi lá hết, chỉ trừ cây thông là giữ được vẻ tươi xanh. Vì thế không lạ gì người ta dùng cây thông để trang hoàng vào dịp lễ. Điều quan trọng là tìm hiểu ý nghĩa của nó. Cây thông với những cành lá luôn xanh tươi, tượng trưng cho sự sống. Cây thông dựng lên trong mùa Giáng Sinh gọi là cây trường sinh ở vườn địa đàng. Nguyên tổ chúng ta đã phạm tội, bị trục xuất khỏi nơi hạnh phúc ấy và bị lên án tử. Nay Chúa Cứu Thế giáng trần, Ngài mở lại cửa thiên đàng cho chúng ta, trả lại cho chúng ta cây trường sinh. Thiết tưởng một khi hiểu được ý nghĩa như vậy, ta có thể dùng bất cứ cây nào đặt bên cạnh hang đá cũng được.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, O.P.

Năm điều Kitô hữu không nên làm vào Giáng sinh

Dĩ nhiên đây là ‘thời gian tuyệt vời nhất trong năm’, nhưng đừng quên ý nghĩa thật sự của nó. Ôi, Giáng sinh! “Thời gian tuyệt vời nhất trong năm”.

Thời gian để xum họp với gia đình và gặp gỡ bạn bè, và với nụ cười trên mặt chúng ta giả vờ không quan tâm ai nhận được món quà tốt nhất và người thân nào của chúng ta thực sự cần nghỉ uống.

Thời gian để treo kim tuyến và đồ trang trí lên cây Noel, và là thời gian để từ bỏ hy vọng đánh mất 10 bảng cuối cùng trong năm nay. Thật là một mùa tràn ngập niềm vui!

Vấn đề quan trọng ở đây đó là chúng ta hiểu như thế nào về Giáng sinh. Tuy nhiên, đối với Kitô hữu có một số điều cụ thể chúng ta không thể làm nếu muốn thật sự tôn vinh và đi theo người mà chúng ta nói chúng mừng kỷ niệm trong mùa này.

Do đó xin nêu lên 5 điều mà Kitô hữu không nên làm vào dịp Giáng sinh.

5) Quên những người thiếu ăn

Chúa Giêsu từng nói khi chúng ta cho người đói ăn là chúng ta đang cho ngài ăn.

Có người nào trong chúng ta muốn đoán biết nó có ý nghĩa gì khi chúng ta làm ngơ người đói không?

Thế còn quên những trẻ em đói khổ và gia đình của các em khi chúng ta vứt thịt ăn còn thừa trong đĩa vào ngày Giáng sinh vào thùng rác thì sao?

Có lẽ chúng ta cần thay đổi tên gọi của mùa này thành Gluttonousmas chăng? Rất nhiều quà, rất nhiều thức ăn, nhưng lại thiếu quan tâm đến những người cần giúp đỡ.

4) Quên người vô gia cư

Một trong những sự kiện chính trong lịch sử Kitô hữu kỷ niệm là sự kiện Chúa Giêsu gần như sinh ra trên đường phố Bethlehem.

Khi trình bày câu chuyện Giáng sinh chúng ta nói người chủ quán trọ bảo các ngài dùng máng cỏ nhưng Kinh Thánh không nói như thế. Quán trọ không có phòng, khiến cho Mẹ Maria phải đặt đứa con mới sinh của mình trong một cái máng ăn hôi thối.

Vào đêm đó các ngài không có chỗ nương thân.

Trong suốt đời mình, Chúa Giêsu không có nơi để gối đầu khi đi rao giảng.

Thời gian này trong năm chúng ta kỷ niệm một người vô gia cư.

Hành động của chúng ta, những nơi chúng ta tiêu tiền có thể hiện điều đó không?

3) Làm ngơ thông điệp kêu gọi chống lại thế lực bạo ngược

Đức Maria và Thánh Giuse cùng gia đình đã phải rời khỏi quê hương vì Vua Hêrôđê đã thẳng tay dùng quyền hành loại bỏ những gì ông cho là mối đe dọa đối với quyền lực của mình.

Tôi có thể đảm bảo với các bạn hai điều: Một là trong nhà nơi Chúa Giêsu lớn lên, chuyện kể lý do các ngài phải trốn sang Ai Cập và những cái chết vô nghĩa do nhà cầm quyền gây ra cho các gia đình khác được kể lại không biết bao nhiêu lần. Hai là trong lời giáo huấn Đức Giêsu nhấn mạnh sự lạm quyền và ngài luôn sẵn sàng đương đầu với việc này không phải là ngẫu nhiên.

Giáng sinh là thời gian kêu gọi Kitô hữu tái cam kết chống lại những kẻ lạm quyền.

2) Quên những người không có quà

Nếu anh có hai áo choàng, hãy cho người khác một cái.

Khi loan báo Chúa Giêsu đến, Gioan Tẩy Giả nói cho chúng ta biết Chúa yêu cầu chúng ta điều gì. Áo choàng chỉ là một ví dụ.

Nếu anh có hai món quà Giáng sinh, hãy cho người khác một cái.

1) Nhầm ngày lễ tôn giáo với ngày lễ thế tục

Có thể ngày 25/12 được chọn làm ngày kỷ niệm sinh nhật Chúa Giêsu nhằm tranh đua hay thậm chí kế tục các tín đồ ngoại giáo tổ chức lễ hội mừng thần Saturn, họ trang trí lễ hội bằng cây thường xanh, tặng quà và tổ chức tiệc tùng linh đình.

Tại sao việc làm đó có vẻ quen thuộc như thế?

Tôi đưa ra điều này để nói lên một vấn đề đơn giản.

Nhiều vấn đề về “Cuộc chiến Giáng sinh” của chúng ta sẽ được giải quyết thỏa đáng nếu chúng ta thừa nhận có hai lễ mừng Giáng sinh mỗi năm.

Một lễ mang tính tôn giáo còn một lễ thì không.

Phần lớn bài viết này thực sự chỉ ra những vấn đề xảy ra khi chúng ta kết hợp chúng lại.

Vì thế xin đừng làm như thế nữa.

MARKSANDLIN

https://www.patheos.com

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.