MÙA VỌNG BẢO ĐẢM CHÚNG TA SỐNG SÓT THỜI CUỐI

16-12-2021 2,120 lượt xem

MÙA VỌNG BẢO ĐẢM CHÚNG TA SỐNG SÓT THỜI CUỐI

ĐỒNG NHẤT VỚI TỘI NHÂN 

----------------------------------------------------------------------------------

MÙA VỌNG BẢO ĐẢM CHÚNG TA SỐNG SÓT THỜI CUỐI

Một phần của thông điệp của Mùa Vọng là chúng ta được ban cho sức mạnh, với tư cách là tín nhân, để sống sót ngày tận thế. Đó là một kỳ công. Đây là lời nhắc nhở về điều sẽ tồi tệ đến mức nào, từ một bài đọc trong Mùa Vọng: “Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến.” (Lc 21:25-27)

Ai có thể sống sót? Ngôn sứ Malakhi đặt vấn đề: “Ai chịu nổi ngày Người đến? Ai đứng được khi Người xuất hiện? Quả thật, Người như lửa của thợ luyện kim, như thuốc tẩy của thợ giặt.” (Ml 3:2) Câu trả lời có trong giáo huấn của Chúa Giêsu. Ngài cảnh báo: “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng: ‘Chính ta đây,’ và ‘Thời kỳ đã đến gần,’ anh em chớ có theo họ.” (Lc 21:8) Rồi Ngài động viên: “Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc.” (Lc 21:28)

Trong khi mặt trời chói chang, rồi chuyển sang màu máu, và các vì sao sa xuống: “Khi Con Chiên mở ấn thứ sáu, có động đất mạnh. Mặt trời tối đen như vải thợ dệt bằng lông, mặt trăng hoàn toàn ra như máu. Sao trên trời sa xuống đất, tựa những trái vả xanh rụng xuống từ cây vả bị gió lớn lay mạnh.” (Kh 6:12-13) Các Kitô hữu được khuyến khích đứng vững, không chỉ theo nghĩa luân lý mà còn theo nghĩa đen. Trong khi trái đất sụp đổ xung quanh chúng ta và những người khác đang chết vì sợ hãi, thì Chúa Giêsu bảo chúng ta đừng sợ. Tại sao?

Dĩ nhiên có nhiều cách để chúng ta có thể trả lời câu hỏi đó. Chúng ta có thể nói rằng nhờ Chúa Giêsu, chúng ta đã được cứu nên không có gì phải sợ hãi. Chúng ta có thể nói rằng trong khi thế giới vật chất có thể bị mai một thì những thứ thuộc về tinh thần mới là điều thực sự quan trọng. Mặc dù tất cả những điều đó có thể đáng sợ, nhưng đó chỉ là khúc dạo đầu cho buổi bình minh của một trời mới và trái đất mới.

Ngoài những câu trả lời hợp lệ đó còn có một câu trả lời khác mang tính cá nhân, bí ẩn và đáng kinh ngạc hơn. Chìa khóa là Ml 3:2. Sự Tái Lâm mô tả “sứ giả” của Thiên Chúa dưới dạng “ngọn lửa của thợ luyện kim.” Câu trả lời cho việc tại sao chúng ta không nên sợ hãi là chúng ta đã biết ngọn lửa này. Đó là lời giải thích của ĐGH Bênêđictô XVI trong Thông điệp Spe Salvi – được cứu trong hy vọng.

Một số thần học gia cho rằng ngọn lửa vừa thiêu đốt vừa cứu vớt là chính Chúa Kitô, Đấng Phán Xét và Đấng Cứu Độ. Gặp Ngài là hành động phán xét quyết định. Trước cái nhìn của Ngài, mọi sự giả dối đều tan chảy. Cuộc gặp gỡ Ngài như lửa thiêu đốt chúng ta, biến đổi và giải thoát chúng ta, cho phép chúng ta thực sự trở nên chính mình. Tất cả những gì chúng ta xây dựng trong suốt cuộc đời của mình có thể chỉ là rơm rạ, tiếng ồn ào, và nó sụp đổ. Tuy nhiên, trong nỗi đau của cuộc gặp gỡ này, khi sự ô uế và bệnh tật của cuộc đời trở nên rõ ràng đối với chúng ta, nhưng ở đó có sự cứu rỗi. Ánh mắt Ngài, sự chạm vào trái tim Ngài, chữa lành chúng ta qua sự biến đổi đau đớn không thể phủ nhận là “như qua lửa.”

Nhưng đó là một nỗi đau diễm phúc, trong đó quyền năng thánh thiện của tình yêu Ngài truyền qua chúng ta như một ngọn lửa, giúp chúng ta trở nên hoàn toàn là chính mình và hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. (Tông thư Spe Salvi, 47; Đức Bênêđictô XVI nói về 1 Cr 3:12-15, nhưng câu này ám chỉ Ml 3:2)

Ở chỗ khác, thậm chí Kinh Thánh còn nói rõ ràng hơn về việc xác định ngọn lửa với Chúa Giêsu. Thánh Gioan dường như đã giải thích cặn kẽ điều đó trong sách Khải Huyền: “Đầu Người tóc trắng như len trắng, như tuyết; mắt Người như ngọn lửa hồng; chân Người giống như đồng đỏ được tôi luyện trong lò; và tiếng Người như tiếng nước lũ. Tay hữu Người cầm bảy ngôi sao và từ miệng Người phóng ra một thanh gươm hai lưỡi sắc bén. Mặt Người toả sáng như mặt trời chói lọ.” (Kh 1:14-16)

Thánh Gioan như cũng hoảng sợ và xác định: “Lúc thấy Người, tôi ngã vật xuống dưới chân Người, như chết vậy. Người đặt tay hữu lên tôi và nói: ‘Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khoá của Tử Thần và Âm Phủ’.” (Kh 1:17-18)

Dĩ nhiên sự xuất hiện của Chúa Giêsu khác với những gì chúng ta thường thấy. Nhưng Mùa Vọng nhắc nhở chúng ta rằng Ngài đang xây dựng điều này. Trong cuộc đời này, Thiên Chúa vĩ đại đến với chúng ta bằng vô số cách thức nhẹ nhàng. Trước khi thấy ngọn lửa thiêu rụi tại núi Sinai, chúng ta gặp bụi cây bốc cháy. Trước khi chứng kiến thực tại hữu hình của Sự Nhập Thể, chúng ta nếm trải nó dưới hình thức ẩn giấu trong bánh và rượu – Thánh Thể. Trước khi chúng ta gặp Ngài trong sự uy nghi và vinh quang trọn vẹn, Thiên Chúa đã đến với chúng ta trong Mùa Vọng với sự khiêm nhường của một trẻ sơ sinh.

Stephen Beale - https://catholicexchange.com

Trầm Thiên Thu chuyển ngữ

ĐỒNG NHẤT VỚI TỘI NHÂN

Chúa Giêsu nói với họ: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin.” (Mátthêu 21:31– 32).

Hình: Chúa Kitô và Người phụ nữ ngoại tình, do Polidoro da Lanciano, Wikimedia Commons

Lời tuyên bố này của Chúa Giêsu, đối với các trưởng lão và các thầy thượng tế, thật khó tin. Ngài đã đưa ra một tuyên bố gây sốc cho các nhà lãnh đạo tôn giáo chung quanh Ngài. Ngài nói: “Những người thu thuế và những cô gái điếm đang vào Nước Thiên Chúa trước các ông.”

Chúa Giêsu đã nói dụ ngôn này với các nhà lãnh đạo tôn giáo chung quanh Ngài. Vào lúc đó họ đang tìm lý do để buộc tội Ngài. Dụ ngôn này rất đơn giản và rõ ràng, kể về một người cha bảo cả hai người con trai của mình đến vườn nho của mình để làm việc. Người con trai đầu tiên từ chối nhưng sau đó anh ta thay đổi ý định và đến vườn nho của cha mình. Người con thứ hai nói “Con đi” nhưng không bao giờ tuân theo lệnh đi đến vườn nho của cha mình.

Người con trai đầu tiên đại diện cho những cô gái điếm và những người thu thuế - những người bị coi là tội nhân công khai vào thời điểm đó. Người con trai thứ hai đại diện cho những người Pharisêu, các kinh sư và những luật sĩ - họ là những người theo đạo. Bây giờ, bạn hãy nghĩ xem ai có khả năng vào Nước Thiên Chúa. Trong câu 31, chính Chúa Giêsu đã tuyên bố gây sốc cho các nhà lãnh đạo tôn giáo đang vây quanh Ngài: “Những người thu thuế và những cô gái điếm đang vào Nước Thiên Chúa trước các ông.”

Chà, chắc chắn ở đây Chúa Giêsu không có ý nói rằng việc mại dâm cho phép người ta, ai cũng được vào Nước Thiên Chúa. Ngài không bao giờ tán dương mại dâm và thu thuế quá mức tôn giáo yêu cầu và thoát ra khỏi tinh thần phục vụ. Dụ ngôn này không nhằm so sánh giữa gái điếm và người Pharisêu. Thay vào đó, Chúa Giêsu dùng dụ ngôn này để dạy chúng ta những chân lý quan trọng nhằm sửa chữa một số lỗi thường gặp trước khi được vào Nước Thiên Chúa.  Dụ ngôn này dạy chúng ta rằng:

Thiên Chúa ước mong mọi người vào Nước của Ngài

Người cha trong dụ ngôn ra lệnh cho các con trai đi làm việc trong vườn nho của ông. Lưu ý rằng lệnh “đi làm” là một mệnh lệnh nhấn mạnh. Ông ra lệnh đơn giản, thẳng thắn và rõ ràng. Điều đó có nghĩa là người cha thực sự cố ý nói những gì ông đã nói. Ông nói rõ với các con trai rằng ông muốn chúng ở trong vườn nho của mình. Ông không muốn thấy chúng ở bất cứ nơi nào khác ngoài vườn nho của ông. Như thể người cha không còn lựa chọn nào khác cho các con trai của mình. Chỉ có một nơi mà ông muốn các con trai của mình có mặt - vườn nho này.

Chúng ta hãy xét đến điều này: người cha trong dụ ngôn đại diện cho Thiên Chúa yêu thương. Ngài muốn mọi người trên thế giới này vào Nước của Ngài. Trên thực tế, Ngài không nghĩ đến lựa chọn nào khác cho mỗi con người mà Ngài đã tạo ra theo hình ảnh của chính Ngài ngoài việc họ được ở trong Nước của Ngài. Thiên Chúa muốn mọi người thuộc về gia đình của Ngài; Ngài muốn họ trở thành công dân trong Vương quốc của Ngài. Thiên Chúa không muốn họ ở bất cứ nơi nào khác ngoài Vương quốc của Ngài. Như vậy, lời mời gọi vào Vương quốc của Thiên Chúa đã được công bố. Vì vậy, Thiên Chúa kêu gọi và sai tôi tớ của Ngài đi công bố lời mời của Ngài cho mọi người.

Điều này sửa chữa lối suy nghĩ rằng Thiên Chúa giống như một kẻ chuyên quyền giận dữ, lên án tất cả những người mà ông không thích. Thay vào đó, Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa là một Thiên Chúa yêu thương và nhân từ, Ngài muốn mọi người trên hành tinh này được cứu độ và không bị lên án. Hỏa ngục không phải là lựa chọn của Thiên Chúa dành cho những người tội lỗi. Hỏa ngục là lựa chọn của chính tội nhân cho chính mình. Hãy nhìn vào câu chuyện ngụ ngôn: người cha triệu tập các con trai của mình đi làm ở vườn nho nhưng ông không bao giờ buộc họ phải vâng lời. Điều này cho chúng ta biết rằng mỗi người phải chịu trách nhiệm về quyết định và câu trả lời của mình trước lời mời gọi của Thiên Chúa.

Thiên Chúa mở rộng lời mời của Ngài đến tất cả mọi người.

Chúng ta thấy trong dụ ngôn người cha lần lượt đến với các con trai của mình và bảo họ đi đến vườn nho của ông. Ông không chỉ đến với người con cả hay người con út, ông đến với cả hai người. Ông không bao giờ để người nào, dù nhỏ tuổi nhất hoặc lớn tuổi nhất, không được kêu mời. Chắc chắn, người cha biết rõ các con trai của mình vì mọi thứ trong mối tương quan cha con ông đều có thể đoán trước được. Ông biết các con trai của mình rất rõ. Ông biết tính cách của họ. Ông biết sở thích cá nhân của họ. Nhưng bạn thấy đấy, người cha không bận tâm đến những gì các con trai của mình đang làm và đang quan tâm vào lúc này, và ông không yêu cầu họ phải đáp lại ông như thế nào. Tình cảnh cá nhân của những người con trai không hề khiến người cha có những hành động thiên vị hoặc ngăn trở việc triệu tập họ. Ông chỉ đơn giản là đến với cả hai người và bảo họ hãy đi làm ở vườn nho của ông.

Điều này sửa chữa lối suy nghĩ sai lầm rằng Thiên Chúa tuyển chọn có chọn lọc. Thiên Chúa thực sự kêu mời cả người tốt lẫn kẻ xấu đón nhận ơn cứu độ. Ngài kêu mời cả những người theo đạo và những người ngoại giáo, người Do Thái và dân ngoại, đón nhận ơn cứu độ,  như sách Công vụ Tông đồ nói: “Thiên Chúa không thiên tư tây vị, ai kính sợ Ngài, thực hành đức công chính đều được Ngài vui lòng đón nhận” (Cv 10, 34).  Thiên Chúa thậm chí còndành sự  ưu ái hơn cho những kẻ tội lỗi, như chính thánh Phaolô nói trong thư gửi tín hữu Rôma, “Trong khi chúng ta còn là tội nhân, Chúa Kitô, theo kỳ hẹn, đã chết vì chúng ta là kẻ có tội” (Rm 5: 8). Đây là một lời dạy gây sốc đối với người theo đạo Do Thái nói chung vì họ nghĩ rằng họ là dân riêng được Thiên Chúa tuyển chọn và tất cả mọi người không phải là người theo đạo Do Thái đều bị Thiên Chúa nguyền rủa và từ chối. Và điều đó càng làm cho những người Pharisêu bị sốc vì họ nghĩ rằng họ có địa vị thánh thiêng hơn bất cứ người nào – vì họ không chỉ là người theo đạo Do Thái mà còn là những người bảo vệ lề luật Do Thái giáo do Môsê truyền lại theo lệnh của Thiên Chúa. Hơn nữa, họ sống một đời sống tôn giáo rất nghiêm ngặt. [1]

Những người thu thuế và những cô gái điếm có thực sự vào Nước Trời trước những nhà lãnh đạo tôn giáo này không? Chúa Giêsu có thực sự nói rằng sự thánh thiện của những cô gái điếm và những người thu thuế đã thực sự vượt qua sự thánh thiện của những nhà lãnh đạo tôn giáo này không? Chúa Giêsu chắc chắn đã nói như vậy!

Đặc biệt là sự kiêu ngạo của các nhà lãnh đạo tôn giáo này đã khiến họ khó chấp nhận những lời này của Chúa Giêsu là đúng. Họ nghĩ bản thân họ cao vời và mong đợi người khác cũng nghĩ họ cao vời như vậy. Họ tin chắc mình là công chính. Đó là một hình tượng xấu xí.

Nhưng Chúa Giêsu đã loại bỏ tất cả những điều này bằng cách nâng những người thu thuế và những cô gái điếm lên Nước Trời. Thật là một “cái tát vào mặt” đối với các nhà lãnh đạo tôn giáo. Nhưng đó là một cái tát mà họ cần vì lợi ích của chính tâm linh của họ.

Suy nghĩ đúng đắn nhất mà chúng ta có thể nhận được từ điều này là suy nghĩ về loại người mà chúng ta dễ dàng có mối liên hệ. Bạn có liên hệ gì với các nhà lãnh đạo tôn giáo tự hào của thời đó không? Hay bạn liên quan nhiều hơn đến những người thu thuế và những cô gái điếm? Có lẽ thật khó để thừa nhận mình có liên quan đến nhóm nào trong cả hai nhóm đó. Có lẽ người ta có xu hướng muốn tự nhận mình là người tốt lành và chính trực mà không thừa nhận bất cứ điểm yếu hoặc tội lỗi cá nhân nào. Nhưng ở đây không phải là chuyện Chúa Giêsu dạy cho chúng ta chọn nhóm này hoặc nhóm nọ.

Sự thật là tất cả chúng ta cần phải thấy mình nằm trong nhóm những người thu thuế và gái điếm. Tại sao thế? Bởi vì tất cả chúng ta đều là tội nhân. Không, chúng ta có thể không mắc phải tội lỗi như họ, nhưng chúng ta có tội và chúng ta phải thừa nhận điều đó. Và trên thực tế, nếu chúng ta không thể thừa nhận sự yếu đuối và tội lỗi của mình, chúng ta không khác gì các trưởng lão và các thầy thượng tế. Chúng ta cũng mắc kẹt trong thói kiêu hãnh của chính mình và tự cho mình là công chính.

Hôm nay, hãy suy tư về loại người mà bạn cho là mình gần gũi nhất. Nếu bạn khó lòng thấy mình là tội nhân như những cô gái điếm và những người thu thuế, thì có lẽ bạn đã mắc phải tội kiêu ngạo mà các nhà lãnh đạo tôn giáo đã mắc phải. Chúng ta hãy cố gắng cầu nguyện xin cho được sự khiêm nhường. Hãy cầu nguyện xin cho mình thấy chính mình như Chúa thấy. Chỉ dưới ánh sáng của sự thật này, chúng ta mới tìm thấy tự do. [2]

Truyện kể rằng trong cơn hấp hối, thánh Đa Minh, đấng sáng lập Dòng Đa Minh, nói với các thầy: “Cha không hiểu tại sao Chúa không giáng lửa xuống thiêu đốt làng mạc này vì nó đang chứa một người tội lỗi nhất trong thiên hạ?”

Các thầy ngơ ngác nhìn nhau. Một thầy cúi xuống sát tai thánh Đa Minh, hỏi: “Lạy Cha thánh, xin cha cho chúng con biết người tội lỗi ấy là ai để chúng con tìm cách đưa họ về đàng lành.”

Thánh Đa Minh bình thản trả lời, rõ từng tiếng: “Người tội lỗi ấy, chính là cha.”

Các thầy lại càng ngẩn ngơ, không hiểu được ý của Đấng sáng lập dòng mình. Thánh Đa Minh liền giải thích : “Nếu có một người nào tội lỗi nhất trong thiên hạ, mà được ơn Chúa dồi dào như cha xưa nay, thì người đó sẽ nên thánh bằng mấy ngàn lần cha đây!” [3]

Trong Mùa Vọng, Giáo Hội mời gọi con cái của mình nhớ lại và tin tưởng rằng: Thiên Chúa không hề bỏ rơi con người trong tình trạng tội lỗi và sự chết, nhưng đã hứa ban Đấng Cứu Độ để cứu chuộc nhân loại. Trong ngày Lễ Giáng Sinh gần kề, Giáo Hội lại mời gọi con cái của mình suy ngắm chương trình cứu độ mà Thiên Chúa vốn đã hứa trong dòng thời gian lịch sử qua các tổ phụ, qua các tiên tri, và nay Ngài thực hiện qua việc sai Con Một của mình xuống trần gian, sinh làm con Đức Trinh Nữ Maria, hầu giải thoát con người khỏi tội lỗi.

Chúng ta hãy cố gắng cầu nguyện xin cho được sự khiêm nhường. Hãy cầu nguyện xin cho mình thấy chính mình như Chúa thấy. Chỉ dưới ánh sáng của sự thật này, chúng ta mới tìm thấy tự do.

Lạy Chúa, xin hãy làm cho lòng con đầy tâm tình khiêm nhường. Và trong sự khiêm nhường đó, xin giúp con nhìn lại chính mình thật sự là ai. Xin giúp con nhìn thấy tội lỗi của mình nhưng là để thấy rằng con đang khao khát tìm đến Chúa. Xin giúp con hướng về Chúa ngay trong tội lỗi của mình và cảm nghiệm được niềm vui và sự tự do của những người đang bước vào Vương quốc của Ngài. Lạy Chúa, con tín thác nơi Chúa. Amen.

Phêrô Phạm Văn Trung biên tập.

[1] sermoncentral.com
[2] catholic-daily-reflections.com

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.