PHAO-LÔ VI – VỊ THÁNH TRẦM TƯ

13-10-2018 3,752 lượt xem

Tạ ơn Chúa – Halleluia. Ngày Chúa nhật 14/10/2018, Giáo hội tuyên Hiển Thánh cho 6 Vị Chân phước, trong đó có Đức Phao-lô VI (1897 – 1978), Ngài là vị Giáo hoàng thứ 82 được Giáo hội tuyên Hiển Thánh trong số 266 Giáo hoàng (từ Thánh Phê-rô tới Đức Phan-xi-cô). Trước đó, ngài đã được Đức Bê-nê-đíc-tô XVI tuyên phong là Bậc Đáng Kính ngày 20/12/2012, và được Đức Phan-xi-cô tuyên phong Chân Phước ngày 19/10/2014, ngày bế mạc Công nghị Giám mục về Gia đình.

Trong năm 2014, chúng ta có hai vị Thánh Giáo hoàng là Gio-an XXIII (sinh 28/11/1881, triều giáo hoàng từ 28/10/1958 tới 03/06/1963) và Gio-an Phao-lô II (sinh 18/05/1920, triều giáo hoàng từ 16/10/1978 tới 02/04/2005). Niềm vui nối tiếp niềm vui, nay chúng ta có thêm Thánh Giáo hoàng Phao-lô VI (sinh 26/09/1897, triều giáo hoàng từ 21/06/1963 tới 06/08/1978). Thật là hạnh phúc khi chúng ta được sống trong thời của ba vị thánh giáo hoàng liên tiếp!

Khi Đức Phao-lô VI đương nhiệm Giáo hoàng, tôi còn là thiếu niên nên chưa biết nhiều về ngài, nhưng qua báo chí Công giáo hồi đó, tôi còn nhớ ngài đã được mệnh danh là “giáo hoàng trầm tư”. Không dưng tôi cảm thấy… thích, dù chẳng hiểu gì sâu xa! Nếu tôi nhớ không lầm thì hình như Đức Phao-lô VI là người đầu tiên KHÔNG dùng mũ ba tầng và KHÔNG dùng kiệu trong ngày đăng quang. Chắc hẳn đó là cách canh tân cần thiết.

Thánh Giáo hoàng Phao-lô VI sinh ngày 26/09/1897 tại Concesio (Lombardy), trong một gia đình thượng lưu, với tên “cúng cơm” khá dài là Giovanni Battista Enrico Antonio Maria Montini. Cha ngài là luật sư nhưng lại làm biên tập viên báo chí và là người thúc đẩy hoạt động xã hội. Cậu Giovanni là người yếu đuối nhưng thông minh, từ nhỏ cậu đã được học với các Linh mục Dòng Tên ở gần nhà tại Brescia. Ngay cả sau khi gia nhập chủng viện (1916), cậu vẫn được sống tại gia đình vì lý do sức khỏe.

Ngài thụ phong Linh mục năm 1920 (mới 23 tuổi), sau đó ngài được gởi tới Rô-ma học tại Đại học Grê-gô-ri-ô và Đại học Rô-ma, nhưng năm 1922 ngài được chuyển tới Accademia dei Nobili Ecclesiastici (Viện Giáo Sĩ) để học ngành Ngoại giao và vẫn học Giáo luật tại Đại học Grê-gô-ri-ô. Năm 1923, ngài được gởi tới Warsaw làm khâm sứ nhưng rồi lại được gọi về Rô-ma (1924) vì mùa Đông Ba Lan lạnh quá khiến sức khỏe của ngài bị ảnh hưởng, rồi ngài được bổ nhiệm làm Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, và ngài giữ chức vụ này từ năm 1922 tới năm 1954. Ngoài việc ngài dạy học tại Accademia dei Nobili Ecclesiastici, ngài còn được bổ nhiệm làm tuyên úy cho FUCI (Federation of Italian Catholic University Students – Liên minh Sinh viên Đại học Công giáo Ý), do đó ngài ảnh hưởng mạnh tới các mối quan hệ của ngài với những người sáng lập Đảng Dân chủ Ki-tô giáo (Christian Democratic Party) thời hậu chiến.

Tại văn phòng Quốc Vụ Khanh, cha Montini và ĐHY Domenico Tardini được coi là những vị thân cận và ảnh hưởng nhất của Đức Pi-ô XII. Năm 1954, Đức Pi-ô XII đã bổ nhiệm cha Montini làm Tổng giám mục của Milan, giáo phận lớn nhất Ý quốc, nhưng không thăng chức cho ngài làm Hồng y theo truyền thống của TGP Milan, điều mà tự động ngài trở thành Thư ký HĐGM Ý. Đức Gio-an XXIII nâng ngài lên Hồng y năm 1958, và sau khi Đức Gio-an XXIII qua đời, ĐHY Montini được coi là một trong những người có thể kế vị.

Khi được bầu làm Giáo hoàng, ĐHY Montini chọn Tông hiệu Phao-lô VI để chứng tỏ canh tân sứ vụ thế giới là loan truyền sứ điệp của Đức Ki-tô. Ngài tái mở Công đồng Vatican II, lý do là Công đồng phải tạm ngưng vì Đức Gio-an XXIII an nghỉ trong Chúa. Sau khi Công đồng bế mạc, Đức Phao-lô VI đảm trách việc giải thích và thực hiện sự ủy thác của Công đồng, thường bước đi trong đường hẹp giữa các hy vọng đối lập của nhiều phe nhóm trong Giáo hội Công giáo. Tầm quan trọng và chiều sâu của việc cải cách ảnh hưởng mọi lĩnh vực trong đời sống Giáo hội trong triều Giáo hoàng của ngài đã phóng đại sự cải cách tương tự của người tiền nhiệm và kế vị.

Và rồi ĐHY Montini đắc cử giáo hoàng ngày 21/6/1963, với Tông hiệu Phao-lô VI – ngày xưa gọi là Phao-lô đệ lục, kế vị Đức Gio-an XXIII. Triều Giáo hoàng của Đức Phao-lô VI kéo dài tới ngày 06/08/1978. Thánh Giáo hoàng Gio-an XXIII là người khai mạc Công đồng Vatican II, Thánh Giáo hoàng Phao-lô VI là người tiếp tục và bế mạc Công đồng này. Ngài mong muốn cải thiện mối quan hệ đại kết với Chính thống giáo và Tin lành, và đã có kết quả trong nhiều cuộc gặp gỡ lịch sử và thỏa hiệp.

Thánh Phao-lô VI là người sùng kính Đức Mẹ Mẹ Ma-ria, thường nói về Đức Mẹ tại các buổi hội nghị và hội thảo, thường viếng các Đền Đức Mẹ và ban hành ba Tông thư về Đức Mẹ. Theo bước vị tiền nhiệm ngài là ĐTGM Ambrose của TGP Milan, ngài tôn vinh Đức Mẹ là Mẹ Giáo hội tại Công đồng Vatican II.

Khi sinh thời, Đức Phao-lô VI đã tìm cách đối thoại với thế giới, với người không là Ki-tô giáo, với các tôn giáo khác và người vô thần, không loại trừ ai. Ngài tự nhân mình là người tôi tớ khiêm nhường vì nhân loại đau khổ và đòi hỏi sự thay đổi nhiều ở người giàu tại Hoa Kỳ và Âu châu để hỗ trợ người nghèo trong thế giới thứ ba. Ngài đề cập vấn đề về hạn chế sinh sản (Tông thư Humanæ Vitæ – Sự Sống Con Người, ngày 24/07/1968) và các vấn đề khác đã gây tranh luận tại Tây Âu và Bắc Mỹ, nhưng lại được hoan hô ở Đông phương, Nam Âu và Mỹ châu La-tinh.

Triều Giáo hoàng của ngài ở trong giai đoạn thay đổi thế giới, sinh viên nổi dậy, chiến tranh Việt Nam và các cuộc nổi dậy khác. Năm 1937, ngài được bổ nhiệm thay thế về thường vụ dưới quyền ĐHY Quốc vụ khanh Pacelli, và ngài cùng ĐHY Pacelli tới Budapest (1938) tham dự Hội nghị Thánh Thể Quốc tế (International Eucharistic Congress). Khi ĐHY Pacelli được bầu làm Giáo hoàng năm 1939, với Tông hiệu Pi-ô XII, ĐHY Montini được tiếp tục giữ chức vụ dưới quyền tân Quốc Vụ Khanh là ĐHY Luigi Maglione. Khi ĐHY Luigi Maglione qua đời năm 1944, ĐHY Montini nghỉ chức vụ cũ. Trong Thế chiến II, ĐHY Montini đảm trách việc tổ chức công việc cứu tế bao quát và chăm sóc người tị nạn chính trị.

Trong mật nghị năm 1952, Đức Pi-ô XII tuyên bố ngài muốn đưa ĐGM Montini và ĐGM Domenico Tardini vào Hồng y đoàn nhưng cả hai vị đều xin miễn. Nhưng Đức Pi-ô XII đã phong cho hai vị tước Đại diện Quốc Vụ Khanh (Prosecretary of State). Năm sau, ĐGM Montini được bổ nhiệm làm TGM Milan nhưng vẫn không có tước Hồng y. Ngài nhận nhiệm sở mới ngày 05/01/1955, và mau mắn được tiếng là “giám mục của giới lao động”. Ngài đổi mới cả giáo phận, rao giảng các sứ điệp Tin mừng về xã hội, cố gắng giành lại giới lao động, thúc đẩy nền giáo dục Công giáo ở mọi cấp, và ủng hộ báo chí Công giáo.

Lúc này, ảnh hưởng của ngài rất mạnh đến nỗi được thế giới chú ý. Tại mật viện năm 1958, tên ngài thường được nhắc tới, và tại mật nghị đầu tiên bầu được Đức Gio-an XXIII hồi tháng 12/1958, ngài là một trong 23 Hồng y có thể đắc cử Giáo hoàng, mà tên ngài luôn đứng đầu danh sách. Ngài đáp lại lời kêu gọi mở Công đồng ngay lập tức và trước khi nhóm họp, ngài đã được chọn làm cố vấn về quy chế hội nghị. Ngài được bổ nhiệm làm Ủy viên Chuẩn bị Chính yếu (Central Preparatory Commission) cho Vatican II và là Ủy viên Tổ chức Kỹ thuật (Technical-Organizational Commission).

Khi được bầu làm Giáo hoàng, trong sứ điệp đầu tiên ngài gởi cho thế giới, Đức Phao-lô VI tự nhận mình là “người tiếp tục công việc mà Đức Gio-an XXIII đã khởi đầu”. Trong suốt triều Giáo hoàng của ngài, sự căng thẳng giữa tính ưu việt Giáo hoàng và tính cộng đoàn của chức Giám mục là nguyên nhân gây xung khắc. Ngày 14/09/1965, ngài tuyên bố tiệu tập Công nghị Giám mục mà các Giáo phụ Công đồng đã kêu gọi, nhưng một số vấn đề có vẻ thích hợp để thảo luận tại Công nghị được giữ bí mật. Luật độc thân đã bị bỏ vì tranh luận tại phiên họp thứ tư của Công đồng Vatican II, nhưng lại là chủ đề của Tông thư công bố ngày 24/06/1967; hạn chế sinh sản được giải quyết trong Tông thư Humanæ Vitæ, và cũng là Tông thư cuối cùng của ngài. Các cuộc tranh luận về hai vấn đề này có xu hướng làm lu mờ những năm trước trong triều Giáo hoàng của ngài.

Đức Phao-lô VI chịu sức ép về sự so sánh với vị tiền nhiệm là Đức Gio-an XXIII – người được mệnh danh là “ông già nhân hậu”. Tuy nhiên, những người biết rõ về ngài nhất đều mô tả ngài là người thông minh, sống nội tâm, khiêm nhường, kín đáo và hòa nhã, và là người “vô cùng nhã nhặn”. Các tư tưởng đáng lưu ý của ngài có thể thấy trong các lời phát biểu, các lá thư và các lời tuyên bố. Sự thành công của Công đồng Vatican II đã ghi dấu ấn lịch sử của Giáo hội Công giáo, nhưng lịch sử cũng sẽ ghi nhớ công cuộc cải cách triệt để của ngài trong giáo triều Rô-ma, lời ngài phát biểu được đón nhận nồng nhiệt tại Liên Hiệp Quốc năm 1965, và hai Tông thư của ngài: Tông thư Populorum Progressio (Phát triển Dân số, 26/03/1967), và Tông thư Octogesima Adveniens (Bát thập Chu niên, 14/05/1971), dịp kỷ niệm 80 năm công bố Tông thư Rerum Novarum (Tân Sự, Đức Lê-ô XIII).

Tông thư thứ nhất cho thấy nhận thức về nhiều vấn đề chỉ mới được làm sáng tỏ, và Tông thư Evangelii Nuntiandi (Loan báo Tin Mừng trong Thế giới, 08/12/1975) – tuyên bố quan trọng của ngài đã “chạm” đến vấn đề chính của khái niệm về sự giải thoát và sự cứu độ.

Thánh Phao-lô VI được mệnh danh là “Giáo hoàng Trầm tư”, đồng thời cũng được gọi là “Giáo hoàng Hành hương” vì ngài đã đi tới các châu lục và đi nhiều nhất so với các Giáo hoàng tiền nhiệm, đặc biệt là tới Na-da-rét ngày 05/01/1964. Ngài qua đời ngày 06/08/1978, lễ Chúa Hiển Dung. Ngài muốn đám tang ngài tổ chức đơn giản: KHÔNG nhà táng (catafalque) và KHÔNG bia tưởng niệm trên mộ ngài. Với Tông thư Humanæ Vitæ, ngài được coi là một tiên tri (ngôn sứ), và những gì trong đó nay đã ứng nghiệm.

Ngày 14/09/1965, Đức Phao-lô Vl thiết lập Công nghị Giám mục và Ban Cố vấn Giáo hoàng. Trong triều Giáo hoàng của ngài đã có vài công nghị được tổ chức để thảo luận về các vấn đề đặc biệt – chẳng hạn, Công nghị Giám mục về Phúc Âm hóa trong thế giới hiện đại, khai mạc ngày 09/09/1974.

Lạy Thánh Giáo hoàng Phao-lô VI, xin nguyện giúp cầu thay cho chúng con! Amen.

Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.