DẠY TRẺ EM LẦN HẠT MÂN CÔI

11-10-2021 2,883 lượt xem

Ngày 20.8.1862, mở đầu bài huấn từ tối [*], Don Bosco nói: “Cha đã mơ”. Tất cả học sinh liền lắng tai nghe.

“Hình như cha ở trong nhà anh Giuse của cha với các học sinh. Thình lình một người lạ mặt tới gần, mời cha cùng đi. Cha đi theo tới một đồng cỏ gần sân chơi. Người lạ chỉ cho cha một con rắn dài và lớn đang bò trên cỏ; nó làm người ta phát run vì sợ. Kinh hãi cha lùi lại tìm đường chạy trốn, vì nghĩ rằng nó mà quấn chặt lưng mình, nó sẽ cắn nát mình luôn. Nhưng người lạ trấn an cha: “Đừng sợ, nó sẽ không làm hại được cha đâu”. Sau đó người lạ đi lấy một sợi dây, đưa cho cha và nói: “Xin cha cầm lấy đầu dây này. Con sẽ cầm đầu kia. Chúng ta sẽ giăng sợi dây trên con rắn và đập xuống lưng nó”. Và người lạ lặp lại: “Cha đừng sợ, nó sẽ không làm hại được cha đâu”.

Theo sự chỉ dẫn của người lạ, cha dùng roi dây đánh xuống trên lưng con rắn, con rắn vùng vẫy, ngóc đầu lên để cắn sợi dây, nhưng nó đã bị trói chặt trong cái gút thòng lọng. Người lạ gào to: “Bây giờ xin cha cầm chắc lấy sợi dây”. Rồi, cha buộc con rắn vào giữa gốc cây và con rắn bị siết chặt cứ tiếp tục vùng vẫy và kêu phì phì. Trong khi đó da thịt nó bắn tứ tung dưới những cú đòn; cuối cùng, chỉ còn lại một bộ xương. Sau đó, người lạ tháo sợi dây đem đặt vào trong một cái hộp nhỏ, rồi đóng lại. Các học sinh đứng xung quanh cha. Người lạ mở hộp: sợi dây bỗng đâu đã được cuốn thành hai chữ “AVE MARIA”. Người lạ cắt nghĩa: “Cha thấy không, con rắn tượng trưng cho ma quỉ, sợi dây là biểu tượng của chuỗi Mân côi. Với chuỗi Mân côi người ta có thể đánh bại mọi con rắn của hỏa ngục”.

Trong việc giáo dục trẻ em, Don Bosco luôn đề cao chuỗi Mân côi, vì bốn lý do:

1. Vì chuỗi Mân côi là một bản tóm của Tin mừng. Việc suy gẫm các mầu nhiệm gợi ra trước mắt những sự kiện và lời nói quan trọng của Chúa Giêsu và Mẹ Maria: các mầu nhiệm vui, sáng, thương, mừng.

2. Vì chuỗi Mân côi là lời kinh làm đẹp lòng Đức Mẹ rất nhiều. Sau này trong nhiều lần hiện ra ở Lộ-đức và Fatima. Đức Mẹ đều mời gọi các em lần hạt. Chuỗi Mân côi là lời kinh rất đơn sơ, dễ dàng, trong sáng, bình dân. Người ta gọi nó là “sách nguyện của các tín hữu”.

Ở Fatima, Lucia đã hỏi Đức Mẹ:

– Thưa Bà, Bà từ đâu đến?

– Ta từ trời đến.

– Bà từ trời đến à? Thế thì một ngày kia, con có được nhìn thấy Bà ở trên trời không?

– Có, con sẽ thấy. Còn Phaxicô? – Lucia vừa hỏi, vừa chỉ đứa em họ.

Đức Mẹ cười với cô bé, rồi trả lời:

– Nó cũng sẽ được lên trời, nhưng trước hết phải lần hạt Mân côi nhiều.

Lucia còn kể: “Đức Mẹ rất sáng chói, sáng hơn tia mặt trời. Trên tay Mẹ có mang tràng hạt”.

3. Vì chuỗi Mân côi lặp đi lặp lại một số kinh mà không bao giờ gây nhàm chán. Một người mẹ không bao giờ mệt mỏi khi vuốt ve đứa con và nói những lời đầy yêu thương. Sự lặp lại là qui luật của tình yêu. Tình yêu, dù có được biểu lộ lần nào cũng y hệt nhau, thì vẫn không bao giờ đơn điệu. Các học giả nói: “Điều cốt yếu trong ơn gọi làm mẹ là ở bên cạnh con mình cách âu yếm”. “Nếu các con là những đứa con hiếu thảo của Mẹ”. Đức Mẹ nói với các trẻ em trong một giấc mơ được Don Bosco kể lại – “Mẹ sẽ là người Mẹ hay thương xót của các con”. Chúa Giêsu gọi những người thuộc về Ngài là “những người mà cha đã ban cho Con. Họ thuộc về Cha và Cha đã ban họ cho con”. Nhưng từ trên Thập giá, Chúa Giêsu đã ban chúng ta cho Mẹ Ngài: “Thưa Bà, này là con Bà”.

4. Vì chuỗi Mân côi tuôn đổ tình mẫu tử của Đức Mẹ trên người lần hạt. Tình mẫu tử giúp con cái nhỏ bé lớn lên và phát triển. Những người nuôi dạy trẻ ghi nhận được một hiện tượng lạ lùng này: “Những trẻ em thiếu tình thân mẫu, cho dù có được chăm sóc tử tế đến đâu đi nữa, sẽ chậm phát triển, lớn lên kém vui tươi, thiếu xã hội tính và dễ dàng hư hỏng hơn những em lớn lên dưới sự chăm sóc của người mẹ”.

Don Bosco đã trực giác được điều đó. Vì thế Ngài không bao giờ mệt mỏi khuyến khích trẻ em lần hạt Mân côi.

Lm. Carlô Ambrôgiô SDB
Lm. GB. Nguyễn Văn Thêm, SDB chuyển ngữ

_______________
[*] Huấn từ tối: bài nói chuyện cuối ngày trước khi đi ngủ, có mục đích nhắn nhủ, khuyên dạy…

BA NHÂN ĐỨC NGƯỜI KITÔ HỮU
CÓ THỂ HỌC ĐƯỢC KHI LẦN CHUỖI MÂN CÔI

Kinh Mân Côi có thể dạy chúng ta các nhân đức Vâng phục, Khiêm nhường và Khó nghèo.

Kinh Mân Côi là phương thế cầu nguyện đưa chúng ta đến gần Thiên Chúa hơn; nó cũng có thể được gọi là “nhà thuyết giảng”, gợi nhắc cho chúng ta những đức nhân cần thiết để noi theo và áp dụng trong cuộc sống.

Cha John Proctor trong cuốn sách Hướng dẫn về Kinh Mân Côi cho các Linh mục và Dân Chúa đã giải thích rằng, Kinh Mân Côi “là một nhà thuyết giảng cũng như một người thầy. Là một người thầy, nó dạy chúng ta biết chúng ta phải tin gì; như một nhà thuyết giáo, nó cho chúng ta biết những gì chúng ta phải làm… Nó dẫn con người đến sự hiểu biết về cuộc đời của Đức Kitô, và sau đó làm theo đường lối của Ngài, thực hành các nhân đức của Ngài, sự bắt chước cuộc sống của Ngài giữa loài người.”

Nó không chỉ dạy chúng ta nhân đức qua việc suy gẫm về cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô, mà còn qua cuộc đời của Đức Trinh Nữ Maria, “Kinh Mân Côi tiết lộ cho chúng ta biết rằng, Đức Maria là khuôn mẫu của mọi nhân đức”, và khuyến khích chúng ta sống như Mẹ.

Đặc biệt, cha Proctor đề xuất 3 nhân đức mà tất cả chúng ta có thể học được qua việc đọc Kinh Mân Côi.

1- Khiêm Nhường

Xuyên suốt các mầu nhiệm của Kinh Mân Côi, sự khiêm nhường được biểu lộ và diễn tả trong từng mầu nhiệm.

Sự khiêm nhường là nền tảng của công trình thiêng liêng của chúng ta; nếu thiếu nó, tâm hồn chúng ta giống như một ngôi đền xộc xệch, dễ dàng sụp đổ. Chúng ta có thể nhận ra điều này trong từng mầu nhiệm. Nhập Thể là mầu nhiệm của sự khiêm nhường thâm sâu nhất – Đấng Tối cao trở thành con người thấp hèn, bé nhỏ trong số những kẻ bé nhỏ; một đứa trẻ thông thái, một Thiên Chúa toàn năng là một trẻ thơ yếu đuối… Mầu Nhiệm Thương, tất cả là sự khiêm nhường – từ Vườn cây Dầu đến Núi Sọ, một hành động kéo dài, không gián đoạn của sự khiêm nhường và sỉ nhục vô cùng. Ngay cả trong sự Phục sinh, được diễn tả trong Mầu Nhiệm Mừng, chúng ta vẫn suy ngẫm về việc tôn vinh sự khiêm nhường. Đức Maria cũng vậy, được mặc khải cho chúng ta với tư cách là “người tớ nữ khiêm nhu của Thiên Chúa”.

2- Vâng Phục

Một nhân đức mà chúng ta thường khó học là sự vâng phục, và nhân đức này cũng được đề cao trong các mầu nhiệm Kinh Mân Côi.

Có thể nói, vâng phục là anh em song sinh với nhân đức khiêm nhường, được sinh ra cùng một lần và cùng một mẹ, lớn lên cùng nhau, tăng trưởng hay sẽ mất đi sức mạnh cùng nhau, có thể chết hay sống với nhau. Sự vâng phục như những sợi chỉ dệt nên tấm thảm thánh ý Thiên Chúa. Do đó, châm ngôn thiêng liêng hướng dẫn cuộc sống chúng ta phải là: “Tôi nên làm theo thánh ý Thiên Chúa muốn. Không phải ý muốn của tôi, nhưng là của Thiên Chúa, được thực thi”.

3- Khó Nghèo

Một nhân đức khác được nêu bật ngang qua Kinh Mân Côi là sự khó nghèo, không vướng mắc và dính bén vào những gì thuộc về trần thế.

Thanh thoát và khó nghèo về tinh thần. Chúa Giêsu đã nói: “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó”, nhưng trước khi Ngài rao giảng điều đó bằng lời, Ngài đã giảng điều đó bằng gương sống. Sinh nơi chuồng bò, sinh bởi một người mẹ nghèo, người cha nuôi kiếm sống bằng nghề thủ công, sống trong ngôi nhà tranh nghèo, các môn đệ là những dân thường, chết trần truồng trên Thập giá, chôn trong nấm mồ thuê mượn. [Chắc chắn tất cả những điều này, đã chiếm được trái tim của Thánh Phanxicô, có nghĩa là sự tán dương và trung thành với “Nữ vương khó nghèo”.]

Philip Kosloski - Gia Thi chuyển ngữ

THÁNH ĐA-MINH CÓ PHÁT MINH RA KINH MÂN CÔI KHÔNG?

Kinh Mân Côi có lịch sử không đơn giản như chúng ta nghĩ, bởi nó liên quan đến hai Thánh Đa-minh khác nhau, các cuộc hiện ra của Đức Mẹ và cũng như lòng sùng kính phổ biến đã tiến triển theo thời gian.

Người ta thường cho rằng, vào năm 1208, Thánh Đa-minh, Đấng sáng lập Dòng Đa-minh, đã nhận được thị kiến từ trời của Đức Maria, Mẹ đã hướng dẫn ngài truyền bá lòng sùng kính, mà ngày nay chúng ta gọi là Kinh Mân Côi. Kể từ đó, Thánh Đa-minh và Dòng Đa-minh của ngài gắn liền với việc phát minh ra Kinh Mân Côi và sự lan rộng của nó ra khắp Châu Âu.

Trên thực tế, các tài liệu lịch sử không thể xác nhận cũng không phủ nhận thị kiến của Thánh Đa-minh.

Điều đó có thể đúng, nhưng không có tài liệu nào từ đầu thế kỷ 13 chứng minh hoặc bác bỏ nó. Trái lại, những bằng chứng rõ nét hơn từ các nhân chứng để điều tra về cuộc đời của Thánh Đa-minh trong quá trình phong thánh cho ngài, mặc dù đã đề cập đến nhiều phép lạ và mặc khải của ngài, nhưng không nói gì về Kinh Mân Côi.

Có bằng chứng về một thị kiến mà Thánh Đa-minh đã nhận được từ Đức Maria, nhưng không có gì rõ ràng để có thể kết nối nó với việc phát minh ra Kinh Mân Côi.

Thật thú vị khi chúng ta biết rằng, có một Thánh Đa-minh khác, thường được nhắc đến liên quan đến sự phát triển của Kinh Mân Côi như chúng ta biết ngày nay.

Theo Bách khoa toàn thư Công giáo, Thánh Đa-minh này là một “tu sĩ Carthusian và nhà văn khổ hạnh, sinh ra ở Ba Lan, năm 1382“. Có bằng chứng giá trị cho thấy ngài đã thêm vào những sự sùng kính hiện có liên quan đến việc đếm những lời cầu nguyện và viết ra những suy niệm về cuộc đời của Đức Kitô.

Đối với 150 Kinh Kính Mừng mà trong những ngày đó đã tạo nên “Thánh ca về Đức Maria”, ngài đã có ý nghĩ thêm những suy niệm về cuộc đời của Chúa Kitô và Mẹ của Ngài. Vào thời thánh nhân, Ave Maria đã kết thúc với những lời, “Fructus ventris tui, Jesus”, thánh nhân kết nối vào mỗi câu để gợi nhớ nhắc về các mầu nhiệm… Cả thánh nhân và bạn của ngài là Adolf đều tìm cách phổ biến việc sử dụng hình thức cầu nguyện này trong Dòng Carthusian, cũng như trong cộng đoàn giáo dân. Vì những lý do này, một số tác giả cho rằng “Sách Thánh Thi” của thánh nhân là hình thức, hay một trong những hình thức nguyên thủy, mà từ đó Kinh Mân Côi được phát triển.

Trước cả hai Thánh Đa-minh, đã có nhiều thực hành khác nhau giữa các giáo dân về việc đếm 150 Kinh Lạy Cha hoặc Kinh Kính Mừng để tương ứng với 150 Thánh Vịnh mà các linh mục và tu sĩ sẽ đọc tụng trong Giờ kinh Thần vụ.

Bất kể vị thánh Đa-minh nào đã “phát minh ra” Kinh Mân Côi như chúng ta biết ngày nay, một điều chắc chắn là nhiều tu sĩ Đa-minh đã truyền bá lòng sùng kính này từ thế kỷ 15 và 16, và cho đến ngày nay vẫn là những người cổ vũ chính cho việc sùng kính trên khắp thế giới. Chẳng hạn như một Đức Giáo Hoàng thuộc Dòng tu Đa-minh, Thánh Pi-ô V, người đã cổ võ Kinh Mân Côi và thiết lập Lễ Đức Mẹ Chiến Thắng vào năm 1571 (sau đó được đổi tên thành Lễ Đức Mẹ Mân Côi vào năm 1573 bởi Đức Giáo Hoàng Grê-gô-ri-ô XIII).

Kinh Mân Côi vẫn là một yếu tố quan trọng và không thể thiếu trong đời sống đạo đức của Công giáo Rô-ma và là niềm yêu thích của nhiều người Công giáo trên khắp thế giới.

Philip Kosloski - Gia Thi chuyển ngữ

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.