VÁC THẬP GIÁ THEO CHÚA MỖI NGÀY
VÁC THẬP GIÁ THEO CHÚA MỖI NGÀY
THẬP GIÁ ĐỜI VÀ THÁNH GIÁ PHÚC
VÁC THẬP GIÁ THEO CHÚA MỖI NGÀY
1/ Mở đầu
Chúa Giêsu nói: “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Như vậy, con đường theo Chúa, hành trình tiến về nước trời phải được thực hiện thông qua sự “từ bỏ” và “vác thập giá”. Còn Đức Giáo hoàng Phaolô VI trong buổi triều yết chung dân ngày 11.03.1970 đã nói: “Đối với chúng ta những người thời nay, một trong những khía cạnh ít được hiểu biết nhất và cũng có thể nói ít được thiện cảm nhất trong đời sống Công giáo: đó là sự từ bỏ”.
Đức Giêsu đòi hỏi các môn đệ phải có lập trường dứt khoát về việc có muốn bước đi theo lời mời gọi của Người không. Những ai muốn theo Chúa thì phải “từ bỏ chính mình” và phải “vác thập giá mình”. Câu hỏi và lời mời gọi này nêu lên tinh thần tự do đáp trả của con người hơn là sự đòi hỏi của Thiên Chúa, vì Chúa luôn tôn trọng sự tự do mà Người đã trao ban cho con người như một món quà độc đáo và quí báu nhất.
Đối với người Kitô hữu, thánh giá luôn là biểu tượng thiêng liêng gắn liền với đời sống đức tin. Nhưng chúng ta phải hiểu Tin Mừng ra sao? “Từ bỏ chính mình” thế nào và “vác thập giá hằng ngày” là gì để có thể thực sự là một người tín hữu tốt lành và luôn đẹp ý Chúa? Chúng ta có thể nhìn lên thập tự và sống thế nào để thập giá thực sự trở nên niềm tự hào và là vinh dự của những người theo Chúa?
2/ Từ bỏ chính mình
Chúng ta tự hỏi: “Từ bỏ chính mình” có nghĩa gì? Và vì sao phải “từ bỏ chính mình”?
Ở đây, Chúa Giêsu nói rõ là “từ bỏ chính mình”. Bỏ mình tức là bỏ chính cái tôi của mình, đó là sự từ bỏ khó khăn nhất. Người xưa từng nói: “Thắng được vạn quân còn dễ hơn là thắng được chính mình”. Cái tôi chính là cá tính của mỗi người, vốn dễ kiêu ngạo muốn trên mọi người, muốn thể hiện chính mình, muốn người khác theo ý mình; chứ không dễ gì khiêm tốn và phục vụ tha nhân. Nhưng đó lại là điều kiện của “thập giá”, bởi thập giá được làm bằng chất liệu khiêm tốn và phục vụ.
Bước theo Chúa mà với đầy dẫy những thứ cồng kềng vướng bận thì khó mà theo sát và theo kịp Người được. Cụ thể, việc chúng ta giữ đạo mà vẫn phải bon chen và ham mê công việc lấn át hết thời giờ cho Chúa, để không còn giờ để đọc kinh chung, để không đủ sức khoẻ đi tham dự lễ, để đến được nhà thờ thì chỉ còn ngủ…
Thật ra, bỏ những thứ bên ngoài đã khó, nhưng bỏ mình, tức là bỏ đi cái tôi của mình còn khó biết bao.
Thật khó chấp nhận điều Đức Giêsu yêu cầu là từ bỏ và hy sinh. Chúng ta đang sống trong một xã hội được lập trình sẵn, khuyến khích thành công nhanh, tận dụng tối đa làm ít hưởng nhiều, đỡ tốn thời giờ và sức khỏe, nên không có gì lạ khi chúng ta làm và nhìn mọi sự theo kiểu của loài người chứ không theo cái nhìn của Thiên Chúa. Chính ông Phêrô, chỉ sau khi đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần, mới ý thức được rằng, ông phải qua con đường ông đã đi và sống trong hy vọng.
Cũng cần phải phân biệt rằng Đức Giêsu không đòi chúng ta từ bỏ “điều chúng ta là”, nhưng điều “chúng ta đã trở nên”. Con người là những hình ảnh Thiên Chúa, chính Thiên Chúa thấy thật là tốt đẹp sau khi tạo dựng người nam và người nữ (x. St 1,31). Điều chúng ta phải từ bỏ không phải là điều Chúa đã làm, nhưng điều chúng ta lạm dụng quyền tự do mà Chúa đã ban cho, cụ thể như: kiêu ngạo, hà tiện, dâm dục, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét và lười biếng... là những khuynh hướng xấu, tội lỗi đã làm lệch lạc và méo mó hình ảnh Thiên Chúa. Thánh Phaolô gọi ảnh biến hình này là “ảnh dưới đất”, ngược với “ảnh trên trời”, giống như Chúa Kitô. Do đó “từ bỏ chính chúng ta”, là từ bỏ ý loài người để mặc lấy ý Chúa, để trở nên hợp và giống Chúa hơn.
Có thể lấy một ví dụ về đôi bạn trẻ yêu nhau nhưng không đồng ngôn ngữ. Để cho tình yêu có thể tồn tại và lớn mạnh, một trong hai người phải học tiếng nói của người kia. Bằng không, họ không có khả năng truyền đạt và tình yêu của họ sẽ không bền. Điều này cũng như mối tương quan giữa con ngườivới Thiên Chúa. Loài người sử dụng ngôn ngữ xác thịt, còn Chúa nói ngôn ngữ của thần khí; chúng ta nói ngôn ngữ tính ích kỷ, còn Thiên Chúa dùng ngôn ngữ của tình yêu. Muốn theo Chúa, con người phải từ bỏ chính mình và học ngôn ngữ của Chúa để có thể giao tiếp với Người.
3/ Vác thập giá mình theo Chúa Giêsu
Chúa bảo chúng ta “vác thập giá mình” chứ không buộc vác giúp ai hay vác thập giá của người khác. “Vác thập giá của mình” chính là việc chu toàn bổn phận công dân, bổn phận đối với Chúa và Giáo Hội trong đấng bậc mình. Vui nhận những trái ý nghịch lòng làm của lễ dâng Chúa. Đường thập giá thực ra không có gì xa thực tế, nhưng đúng với cả nghĩa tôn giáo lẫn xã hội. Thật vậy, có ai đạt được vinh quang mà không khổ luyện: một học sinh muốn thi đậu phải miệt mài đèn sách, một vận động viên thể thao muốn chiến thắng trong các cuộc thi phải đòi hỏi khổ luyện, và đặc biệt, muốn hưởng phúc Nước Trời thì phải biết hy sinh và chịu thử thách.
Ngày nay, có những cách bách hại rất tinh vi và thâm hiểm của những cám dỗ về danh về lợi, về sự hưởng thụ, bao lời mời gọi của cái gọi là “văn hoá thời đại”, nhưng những điều đó chỉ dẫn đến hư vong. Vì thế, chúng ta phải chết đi mỗi ngày vì những thứ bách hại đó, nghĩa là hi sinh vâng phục theo sự hướng dẫn của Lời Chúa, của Giáo Hội mà tuân giữ các giới răn là lệnh truyền của Chúa.
Con đường theo Chúa, đời sống đạo mỗi ngày cần có sự dấn thân, phải vác lấy thập giá để theo Người. Thập giá đó là những khó khăn, những trái ý nghịch lòng, là việc tuân giữ lề luật…
Theo Chúa giống như việc leo núi còn thập giá lại giống như cây gậy của người leo núi. Không có gậy để dò đường và để chống đỡ thì ta sẽ mỏi chân, sẽ không đi được, có khi té ngã hay bỏ cuộc giữa đường.
Thập giá đi liền với tình yêu, con người phải nhìn thập giá Đức Kitô như một sự tốt lành thượng đẳng, nếu không sẽ chẳng thể chấp nhận nổi thập giá. Thập giá phát xuất từ tình yêu của Đấng Cứu Độ.
Nếu thập giá là biểu tượng của đau khổ thì Đấng chịu đóng đinh đã chiến thắng đau khổ. Đức Kitô đã tạo ra sự khác biệt hoàn toàn giữa thập giá và kẻ bị đóng đinh. Khi nhận lấy thập giá, Đấng là tình yêu đã cho thấy rằng tình yêu có thể biến đau khổ thành niềm vui, để những ai gieo trong nước mắt có thể gặt giữa tiếng cười, những ai khóc lóc có thể được an ủi, những ai đau khổ có thể đồng hiển trị với Người.
Tình yêu như là điểm giao thoa giữa thanh nằm ngang của sự chết và thanh đứng của sự sống trong một xác quyết: mọi sự sống đều ngang qua sự chết. Đau khổ là một hy sinh không có tình yêu trong khi hy sinh là đau khổ có kèm theo tình yêu. Tình yêu biến đau khổ thành hy sinh dâng hiến với niềm vui. Thiếu tình yêu, hy sinh chỉ còn là đau khổ gánh nặng và buồn chán. Đức Kitô đã đón nhận cái chết trên thập giá vì yêu thương nhân loại.
Có tất cả ba cây thập giá dựng lên trong chiều thứ sáu tử nạn thì chỉ có cây ở giữa của Đức Giêsu trở thành Thánh Giá. Khi Người tắt thở trên cây thập giá, Người đi vào đời sống mới thì cây thập giá khốn khổ ấy trở thành cây cứu rỗi đời đời và là sự sống thần thiêng. Sự thánh thiêng ấy là tình yêu, là đau khổ, là sự chết và là vinh quang. Không có tình yêu thì thập giá không là Thánh Giá.
Mỗi ngày người Kitô hữu theo Chúa phải cố gắng từ bỏ rất nhiều và vác thập giá mỗi ngày. Có tình yêu của Chúa trong mỗi hành vi từ bỏ, người môn đệ có thêm sức mạnh của ơn thánh, để mọi thập giá trong đời trở thành Thánh Giá. “Từ bỏ” để được nhận thêm: thêm lòng yêu mến Chúa, thêm sự thánh thiện, thêm niềm vui phục vụ tha nhân…
“Ai giữ mạng sống mình sẽ mất, ai liều mất mạng sống mình thì sẽ giữ được mạng sống ấy” (Mt 16,24). Nghe có vẻ thật nghịch lý, nhưng đó lại là chân lý Kitô Giáo, bởi vì cái đích đạt tới cuối cùng của chúng ta là sự sống đời đời (mạng sống siêu nhiên) chứ không phải ở sự sống thể lý chóng qua đời này. Vì chính Đức Giêsu đã nói: “được lời lãi cả thế gian mà phải thiệt mất linh hồn thì nào có lợi gì?” (Mt 16,26).
Khi chúng ta chỉ tìm cái sung sướng cho thân xác đời này, thì sự sống tâm linh của chúng ta èo uột, nghèo nàn; chỉ khi chúng ta chịu khó hy sinh, tuy là về đời sống bình thường có vẻ bị thua thiệt, nhưng khi đó sự sống vĩnh cửu của chúng ta đang hình thành và tăng trưởng.
4/ Hãy vác thập giá vì thập giá là niềm tự hào
“Thập giá, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận được và dân ngoại cho là điên rồ, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó là sức mạnh của Thiên Chúa” (1 Cr 1,18-24). Thập giá là nơi Chúa đã đổ hết giọt máu và nước cuối cùng để cứu chuộc chúng ta và đó là nơi biểu lộ tình yêu cao vời nhất của Thiên Chúa.
Thánh Phaolô Tông đồ từng tự hào về thập giá như sau: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6,14).
Trong đời sống Kitô hữu, ai cũng phải vác thập giá vì không ai có thể trốn tránh được đau khổ. Đau khổ chính là thập giá chúng ta phải vác hằng ngày. Thái độ của người tín hữu là phải vác như thế nào: tự nguyện hay miễn cưỡng? Theo kinh nghiệm của chúng ta và cũng là của thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, nếu ai vác bổng thập giá lên vai và mạnh dạn bước đi thì sẽ thấy nó nhẹ nhàng hơn và khi đó thập giá sẽ trở thành thánh giá mang lại ơn cứu độ; ngược lại, người nào vác đi uể oải hay kéo lê thì thập giá cuộc đời sẽ trở nên nặng nề và trở thành khổ giá. Thiên Chúa, người cha nhân lành của chúng ta, Người biết rõ sức chịu đựng của từng người nên sẽ không khi nào để cho con cái Người phải chịu đựng quá sức, có thể chúng ta nhận thấy người khác mang lấy thánh giá nhẹ hơn chúng ta, nhưng thật ra thánh giá của ai thì sẽ hợp và vừa với sức của người ấy.
5/ Thập giá cuộc đời và niềm tin vào Chúa
Đức Giêsu nói: hãy “vác thập giá mình mà theo Ta”, thập giá ấy có khi là những quan điểm bất đồng giữa bề trên và bề dưới trong đời dâng hiến; giữa cha mẹ và con cái hay mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, giữa anh chị em, bạn bè trong cuộc sống đời thường; cũng có thể là những khó khăn trong công việc mưu sinh… Đó là những cái gánh, những cái ách mà chúng ta phải mang mỗi ngày.
Trên hành trình tiến về nước trời, chắc chắn chúng ta phải đi qua những đoạn đường đầy sỏi đá chông gai với những gánh nặng hàng ngày. Đó là cái gánh về trách nhiệm gia đình với người chồng, người vợ và các đứa con yêu quý; trách nhiệm công việc mà chúng ta đang đảm nhận với cộng đoàn, với xã hội… Ắt hẳn có lúc ta muốn bỏ mặc họ lại trên đường, để một mình thanh thản bước đi nhẹ nhàng hơn. Những lúc như thế, hãy nhớ lại Chúa Giêsu trên đường lên Núi Sọ, Người đã bị đánh đập tả tơi, máu rơi không ngừng, nhưng Người vẫn lê từng bước với gánh nặng trên vai để gánh thay tội lỗi cho loài người nhân thế. Chúng ta muốn dừng lại chỉ vì sức nặng của công việc và trách nhiệm của gia đình nhỏ bé của chúng ta thôi sao? Những vất vả đó có là bao so với những gì Đức Giêsu đã chịu? Người không chỉ một lần nhưng là ba lần ngã xoài xuống đất. Vì tất cả chúng ta, vì nhân loại mà Người đã cố gắng đứng dậy và bước đi trên con đường đau khổ. Tình yêu của Thiên Chúa là thế, Người không thể bỏ lại thập giá bên đường, nhưng đã vác nó trên vai với tình yêu để tiến về núi sọ.
Đức Giêsu đã hứa sẽ cất đi đỡ gánh nặng cho chúng ta và Người sẽ không thất hứa đâu, nếu chúng ta tin tưởng vào Người. Điều duy nhất chúng ta cần là chạy đến, tin tưởng và cộng tác với Người: “Hãy đến với Ta, hỡi những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng, vì ách ta êm ái và gánh Ta nhẹ nhàng” (Mt 11,29).
Hành trình tiến về nước trời sẽ nhẹ nhàng thênh thang, nếu chúng ta cùng bước đi với Người và chung sức kề vai với những người thân yêu đó là vợ chồng, con cái, là anh chị em, là bạn hữu… Chúng ta sẽ không bước đi một mình nhưng sẽ luôn có Chúa ở cùng và nâng đỡ chúng ta mỗi ngày trong đời sống.
6/ Theo Chúa trong đời sống hằng ngày
Giáo hội luôn nhắc nhở con cái mình cần phải nhìn vào gương khổ nạn và phục sinh của Chúa Giêsu để can đảm và sẵn sàng từ bỏ mình và vác thập gía mình mà sống theo Chúa trong cuộc sống hàng ngày.
Vì sao Đức Giêsu nói: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống ấy”. Những lời này có ý nói rằng: “con người có thể cứu mạng sống mình bằng cách chối bỏ niềm tin, nhưng như thế thì chẳng những không cứu được mạng sống mình theo đúng nghĩa thật sự mà là đánh mất nó”. Người giữ lòng trung tín có thể chết, nhưng “chết để được sống”. Còn người bỏ đức tin mình để được an thân thì có thể sống nhưng “sống để mà chết”. Trong thời đại chúng ta, không có những cuộc bách hại khắt khe như thời trung cổ, nhưng của cải vật chất, chức quyền, danh vọng... có thể làm cho chúng ta chết mà mất linh hồn.
Chúng ta thấy có mối tương quan biện chứng giữa “mất đi” và “được lại”. Người Kitô hữu chỉ thực sự hạnh phúc khi dám mất đi cái tạm bợ để được lại cái vĩnh hằng, dám mất đi cái chóng qua để được cái trường tồn. Người Kitô hữu chỉ thực sự khôn ngoan khi sẵn lòng “mất đi” sự sống hay chết để “được lại” sự sống đời đời. Và Đức Giêsu đã kết luận bài giáo huấn của Người bằng những lời này: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì”. Đứng trước thập giá, đứng trước đau khổ, chúng ta không thể hiểu, không thể giải thích được vì đó là mầu nhiệm. Tuy nhiên, tất cả những gì chúng ta có thể làm khi gặp đau khổ là tín thác vào Đức Giêsu, Đấng đã phán: “Bất cứ ai chấp nhận mất sự sống mình vì Danh Thầy thì sẽ tìm lại được sự sống ấy” (Mt 10,39). Trong cuộc sống, người ta luôn gặp thập giá, đau thương, gian nan thử thách… nhưng tất cả những cái đó không phải để làm hại mà sẽ trở nên điều có ích lợi cho ta.
Khi đối diện với những đau khổ, thử thách, hãy vững tin và ngước nhìn thánh giá vì chúng ta xác tín rằng: “Có Chúa ở cùng tôi mà bênh đỡ, tôi chẳng sợ gì. Hỏi người đời làm chi tôi được?” (Dt 13,6).
Khi chúng ta yếu đuối, lỗi lầm, cũng không được thất vọng và đừng buông rời thánh giá mà hãy nhớ rằng: “Đức Ki-tô Giê-su đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi” (1 Tm 1,15).
Thánh Giá là “chìa khóa vạn năng”, dẫn bạn và tôi bước vào sự sống. Trong niềm xác tín ấy, chúng ta hãy mạnh dạn chia sẻ thánh giá cuộc đời cho Chúa, chắc chắn Người sẽ nâng đỡ phù trì chúng ta trong những lúc gian truân. Vì Đức Giêsu đã nói: “Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Thế nên, chúng ta hãy: “vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của mình, để sức mạnh của Đức Ki-tô ở mãi trong chúng ta” (2 Cr 12,9).
Lạy Chúa Giêsu, điều kiện để đi theo Chúa là “vác thập giá mình”, nhưng nhiều lúc chúng con muốn buông bỏ thập giá ra khỏi chính mình, muốn được đổi lấy thập giá khác nhẹ nhàng hơn. Chúng con muốn tránh né đau khổ, thử thách, ngại dấn thân hy sinh. Nhưng hành trình tiến về nước trời sẽ không bao giờ thiếu vắng thập giá, vì thế, xin Chúa ban cho chúng con lòng khát khao yêu mến thập giá Chúa gởi trao vì chúng con biết rằng Chúa sẽ luôn đồng hành cùng con mọi ngày trong đời sống và con đường thập giá là con đường duy nhất để chúng con về đến quê trời. Xin Chúa luôn trợ giúp để chúng con hiên ngang vác thập giá đời mình bước đi theo Chúa. Amen. mục lục
Phong Trần.
“Thánh kinh là lịch sử ơn cứu độ của chúng ta đã được hứa hẹn trong Cựu ước và được thể hiện trong Tân ước” (Linh mục Giuse Trịnh Hưng Kỷ - Dẫn vào Tân ước tập một). Nhưng cũng có thể nói Thánh kinh là lịch sử Tình yêu liên tục của Thiên Chúa đối với con người không ngừng lỗi phạm.
Những bài suy tư sau đây, được viết dưới dạng nhật ký, như một cái nhìn từ Tân ước - qua biến cố tử nạn của Chúa Kitô- ngược về Cựu ước- qua những hình ảnh trong sách Sáng thế. Ước mong làm nổi lên tính liên tục của Tình yêu Thiên Chúa, một Tình yêu bền vững làm phát sinh dòng lịch sử cứu độ.
1. Thứ Sáu tuần Thánh ngày...tháng...năm...
Chiều nay, một buổi chiều bình an cho nhân loại. Bởi vì Đấng Cứu độ đã đồng hóa mình với họ. Chiều nay nhân loại hạnh phúc vì trên nẻo đời, họ không bước đi đơn lẻ, mà Thiên Chúa đang cùng họ đồng hành. Người đang bao bọc từng người bằng Tình yêu.
Chiều nay họ đến nhà thờ lòng tràn ngập niềm vui, vì chiếc khăn tang bao trùm con cháu Ađam đã bị xé tan. Tội của một người nhân loại phải đau khổ, phải chết. Nhưng nhờ Máu Đức Kitô, nhân loại được chuộc lại sự sống.
Nơi các nhà thờ giáo dân cúi đầu tưởng niệm. Trong không gian trầm mặc, họ ngắm Đàng Thánh giá. Họ nghe Lời Chúa nói với họ về cuộc thương khó của Chúa Kitô. Họ cảm nhận gương mặt đau khổ của Con Thiên Chúa đang mời gọi họ trở lại với Ngài.
Và họ thấy cuộc đời này thật ý nghĩa: vì đau khổ của họ, Con Thiên Chúa đã từng mang lấy. Con Thiên Chúa đã sử dụng cuộc đời này để làm người, để sống, để lớn lên và cứu chuộc họ...
2. Thứ Sáu tuần Thánh ngày...tháng...năm...
Thứ Sáu tuần Thánh năm nay, để giúp cộng đoàn suy niệm trước Thánh giá, tôi đã nghiền ngẫm và suy niệm điều này: “Trên thập giá, Chúa Giêsu đã ôm trọn nỗi khổ đau của con người, chia sớt đến cùng những khắc khoải của con người về lẽ sống... Người trộm cùng bị án treo thập giá với Chúa Giêsu bỗng nhận ra con đường sự sống...” (Đại chủng viện thánh Giuse Sài Gòn - Đàng Thánh giá 1995).
Tôi nhớ chuyện xưa kể rằng, có đôi vợ chồng kia yêu nhau đắm đuối, đến nỗi có lần chàng bảo nàng là xương, là thịt của chàng. Chúa yêu họ, cho họ sống giữa địa đàng trù phú. Trên hết mọi cỏ cây và muông chim cầm thú, họ nắm chủ quyền. Nhưng rồi một ngày, họ quay lưng phản nghịch lại Chúa. Thiên thần Chúa cầm gươm lửa đuổi họ khỏi địa đàng. Cửa trời khép lại. Từ nay họ bắt đầu một cuộc sống đày ải lầm than.
Ngài nay chuyện kể rằng, Ngôi Lời, Con Thiên Chúa mặc lấy xác phàm, sống giữa trần gian hầu “ôm trọn nỗi khổ đau của con người, chia sớt đến cùng những khắc khoải của con người về lẽ sống” . Thân xác Ngài quằn quại trên khổ giá lại chính là lời ngỏ của Tình yêu. Cửa trời từ nay lại mở rộng.
Ngày xưa cửa trời khép lại do lòng người khép lại. Họ không yêu Chúa và chẳng còn yêu thương nhau. Ngày nay cửa trời lại mở do một người biết mở rộng cõi lòng. Đức Giêsu, Con Thiên Chúa đã yêu và chết vì yêu.
Thập giá không chỉ là ngọn cờ biểu trưng cho Tình yêu, cũng không chỉ là mầu nhiệm của Tình yêu, mà còn là lời ngỏ của Tình yêu gởi nhân loại.
Người trộm lành vì biết mở rộng lòng nên anh “bỗng nhận ra con đường sự sống”. Thế là trong phút chốc anh đã hưởng trọn vẹn lời ngỏ của Tình yêu.
Lạy Chúa, con rất sợ tâm hồn con không mở rộng, lòng con khép lại trong thụ hưởng ích kỷ, khép lại trong gian dối...Và khi ấy cửa trời cũng khép lại...
Con rất sợ. Chúa ơi con rất sợ...
Giêsu hãy giúp con...
3. Thứ Sáu tuần Thánh ngày...tháng...năm...
Từ ngày đôi vợ chồng đầu tiên của nhân loại bước ra khỏi địa đàng, sự sống trở nên gánh nặng. Liều thuốc độc của tội đã giết chết tất cả mọi tương quan giữa con người với Thiên Chúa, với thụ tạo quanh mình, và giết chết chính mình.
Tội là một thất bại thảm hại của con người. Khi dựng nên con người, Thiên Chúa không cho họ giống một cái gì khác, nhưng là giống chính Thiên Chúa.
Con người là phản ảnh vinh quang của Thiên Chúa. .
Từ nguyên khởi họ là loài thụ tạo tốt đẹp, một thụ tạo ưu tú, vượt trên mọi thụ tạo.
Nhưng thay vì hướng về Thiên Chúa như Ngài muốn, con người lại tập trung vào chính mình: con người kiêu ngạo.
Bởi một khoảnh khắc sai lầm, bản tính tốt lành của họ bị đánh bại thảm hại.
Tưởng rời xa Thiên Chúa để được bằng Thiên Chúa, không ngờ nó trở thành sự vong thân nghiệt ngã.
Lời Thiên Chúa vẫn nhắc nhở con người, để họ nghe mà suy nghĩ: “Thấy chưa! Ađam đã trở thành một bậc hiểu biết điều lành, sự dữ như Ta: nên bây giờ phải e dè kẻo y giơ tay hái trái trường sinh mà ăn hầu được sống vĩnh viễn chăng" (x. St 3,22).
Đi liền với hành động tội lỗi, họ đã đạt mục đích: “Biết điều lành, sự dữ”. Nhưng cái giá phải trả quá đắt: mất tất cả và mất cả chính mình. Cả câu Lời Chúa như một lời mỉa mai chua chát xoáy vào số phận con người.
“Sự sống vĩnh viễn” đâu không thấy, chỉ có nỗi nhục nhã, đau khổ là bám lấy. Cái được chẳng bao nhiêu, nhưng mất quá nhiều. Thà đừng được để đừng mất, đó là điều quý giá, nhưng con người chỉ nhận ra cách muộn màng.
Kinh nghiệm tội lỗi dù đã làm con người khiếp sợ nhưng họ vẫn không thể tự mình đứng vững. Sau mỗi lần phạm tội là mỗi lần đổ vỡ, là ray rứt, là mất mát, nhưng vẫn cứ lao vào.
Con người mong manh, yếu đuối không đủ sức tự làm chủ mình. Vong thân đẩy họ đi từ nghiệt ngã này đến nghiệt ngã khác.
Vì thế, càng mất mát, càng sợ hãi, càng đau đớn... Con người càng biết ơn Đấng cứu thoát mình. Chúa Kitô, Thiên Chúa làm người đã cúi xuống nâng họ lên từ số phận bạc phước, họ được cứu độ.
Số phận không còn đen tối nữa, nhưng con người có quyền hy vọng.
Tình yêu Thiên Chúa chiến thắng.
Vì Tình yêu ấy mà Chúa Kitô trở thành “người Tôi tớ đau khổ” của Thiên Chúa.
Trên thập giá, gương mặt của Chúa Kitô là tất cả nỗi nhục nhằn của nhân loại được khắc sâu vào đó.
Hôm nay, thứ Sáu tuần Thánh, ngày mà nhân loại phải cúi đầu thống hối, ngày biết ơn Đấng Cứu chuộc mình.
Thứ Sáu tuần Thánh, ngày mà nhân loại tưởng niệm ơn cứu độ hồng phúc đang chảy tràn trề xuyên qua mọi thời đại.
Bởi thế thứ Sáu tuần Thánh cũng là ngày vui mừng của muôn thụ tạo và của triều thần thánh, vì Đấng xóa tội trần gian đã chiến thắng khải hoàn trên mọi đầu mục thế gian. Vì loài người là đứa con hoang của Chúa Cha đã mất nay tìm thấy, đã chết nay sống lại.
Loài người hãy reo lên, hãy ca vang bài ca vinh tụng Thiên Chúa là Cha nhân lành đến muôn đời.
4. Thứ Sáu tuần Thánh ngày...tháng...năm...
A. Hai câu chuyện về hai con rắn rong Cựu ước có liên quan lạ lùng với nhau:
- Con rắn địa đàng (x. St 3,1-5) xuất hiện đang lúc con người đang ở đỉnh cao hạnh phúc. Con rắn đồng trong sa mạc (x. Ds 21,4b-9) xuất hiện giữa cảnh cơ cực của những người tha hương vừa thoát khỏi cảnh nô lệ.
- Con rắn địa đàng là hiện thân của tội lỗi và sự dữ. Con rắn đồng trong sa mạc là “tin mừng” cho những kẻ ngước nhìn lên nó.
- Con rắn địa đàng hủy diệt mọi tương quan tốt đẹp giữa con người với Thiên Chúa. Con rắn đồng trong sa mạc mang lại niềm hy vọng vì nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa.
- Vì con rắn địa đàng, nhân loại đã phạm tội. Bởi tội, nhân loại đáng được "Đấng Cứu độ đời đời" (Bài ca Exultex - đêm Phục sinh). Con rắn đồng trong sa mạc là hình bóng báo trước ơn cứu độ.
B. Hai câu chuyện về hai con rắn trong Cựu ước cũng liên quan trực tiếp đến Tân ước:
Thiên Chúa nói với con rắn địa đàng: “Ta sẽ đặt hận thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng giống ngươi và dòng giống nó. Dòng giống nó sẽ đạp đầu ngươi, còn người sẽ táp lại gót chân” (St 3,15).
Đây là lời hứa cứu độ đầu tiên và quan trọng nhất, mở ra một tia hy vọng giữa lúc án phạt do tội và mọi đau khổ đang đè nặng con người.
Chính vì lời hứa này, suốt chiều dài lịch sử cứu độ, Thiên Chúa không ngừng ký kết giao ước. Và giao ước cuối cùng, vĩnh viễn đã hoàn tất nơi Chúa Kitô .
Câu chuyện thứ hai về con rắn được chính Chúa Kitô nhắc lại: “Như Môsê giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ được giương cao như vậy” (Ga 3,14).
Nếu ngày xưa ai nhìn lên con rắn đồng sẽ được cứu sống, thì ngày nay thập giá Đức Kitô chính là ơn cứu độ trọn vẹn cho những ai tin (x. Ga 3,15).
Hình bóng cũ đã được hoàn tất bằng thực tại mới. Hình bóng cũ thoáng qua, thực tại mới sống động và vững bền. Chúa Kitô mãi mãi là Đấng Cứu độ duy nhất của trần gian (x. Dt 13,8).
C. Thập giá - một phương thế cứu độ:
Nhìn ở một góc cạnh nào đó về lời hứa cứu độ, thì tội phát sinh phương thề cứu độ là thập giá: có tội mới có thập giá.
Nhưng nếu không có Tình yêu sẽ chẳng bao giờ có lời hứa cứa độ. Thập giá là lời nói vô giá của Tình yêu. Huyền nhiệm Tình yêu đã phát sinh huyền nhiệm thập giá.
Tội làm đau khổ không chỉ nơi con người, mà còn nơi Thiên Chúa. Dĩ nhiên không thể nói Thiên Chúa đau khổ do thương tật, khiếm khuyết nhưng rõ ràng, đứng trước tội của con người, trái tim của Ngài đã phản ứng đến độ thốt lên: “Ta hối tiếc đã làm ra con người” (St 6,7).
Dù “hối tiếc”, Thiên Chúa đã không vì thế mà cứu chuộc con người cách miễn cưỡng, như chuyện dĩ lỡ.
Thiên Chúa đã tự nguyện cứu độ và đã cứu độ thực sự.
Quyết định cứu độ của Thiên Chúa là quyết định xuất phát từ Tình yêu của một người Cha - Thiên Chúa: “Sự đau khổ khôn lường và khôn tả của người Cha sẽ làm phát sinh nhiệm cục của Tình yêu cứu độ trong Đức Giêsu Kitô” (Đức Gioan Phaolô II - thông điệp Chúa Thánh Thần, số 39).
Nơi thập giá, Chúa Kitô mạc khải trọn vẹn về Tình yêu, nỗi đau khổ của Thiên Chúa. Nơi thập giá, Tình yêu của người Cha đã chiến thắng:
Một dòng dõi trường tồn sẽ đạp bể đầu con rắn xưa...
*****
Nhân loại vui mừng vì Đấng cứu độ trần gian đã dùng thánh giá nối trời và đất, giao hòa thụ tạo với Thiên Chúa.
Chiều thứ Sáu tuần Thánh, trên thập giá, Chúa lau sạch nước mắt nhân loại:
Vì Chúa bị treo lên và mọi loài được kéo lên cùng Chúa;
Vì Chúa đã chết để mọi người sẽ sống;
Vì máu Chúa tuôn trào lại chảy tràn ơn cứu độ khắp nhân gian;
Và thập giá từ nay khoác lên đau khổ màu hy vọng.
Nghìn năm qua, rồi mãi về sau, ngọn cờ thập giá vẫn được nêu cao. Ngọn cờ mang sức mạnh của sự sống.
Lạy Chúa, phụng vụ chiều thứ Sáu tuần Thánh trầm mặc: bàn thờ không hoa, cửa nhà tạm mở, chỉ có thập giá được dựng lại trên bàn thờ. Thập giá ấy, nỗi ô nhục không thể chấp nhận được đối với người Do thái, sự điên rồ đối với dân ngoại (x.1 Cr 1,32) lại trở thành thánh giá, nguồn cứu độ vinh quang đời đời cho chúng con.
Mầu nhiệm thánh giá: mầu nhiệm của Tình yêu. Chúng con không thể lý giải, nhưng chúng con tin Tình yêu ấy.
Ngước nhìn thánh giá, chúng con thấy thương cho thân phận mình: Rủi thay, nếu Thiên Chúa chỉ là một ông chủ chỉ biết dọa nạt và đánh phạt. Nhưng chúng con lại đầy tràn niềm vui, chan chứa nỗi hy vọng vì biết rằng nơi Chúa, Chúa Cha nói lời chung quyết của Tình yêu.
Quỳ trước thánh giá, chiêm ngắm mầu nhiệm tử nạn, lòng chúng con muốn cùng muôn thụ tạo reo vang lời cảm tạ, tôn vinh Tình yêu ấy, vì Tình yêu đã hủy diệt án tử dành cho chúng con. Tình yêu ấy lớn hơn tội lỗi, mạnh hơn sự chết.
Lạy Chúa, chúng con muốn suốt đời là kẻ hát rong cho Tình yêu... mục lục
Lm. JB. NGUYỄN MINH HÙNG
THẬP GIÁ ĐỜI VÀ THÁNH GIÁ PHÚC
Đức Thánh Cha Phaolô VI cho biết: Không thể có một Kitô giáo mà không có đổ máu. Đổ máu là dấu hiệu của chết chóc, của thất bại. Việc đổ máu của Chúa Kitô, trước mặt người đời, trước tất cả mọi phù phím của thế gian mang vỏ bộc khôn ngoan, tiến bộ, văn minh…, cũng chỉ là một thất bại lớn, một sự bị đốn ngã nhục nhã.
Nhưng dưới dòng lịch sử của ơn Thánh - một dòng lịch sử chỉ có thể khám phá bởi lòng tin, bởi sự đơn thành, bởi cái nhìn thoát tục không bao giờ bị rào bị cản của tiến bộ, của văn minh mà con người theo đuổi - việc đổ máu của Chúa Kitô là sự tôn vinh Thiên Chúa và là ơn cứu độ vĩnh cửu của loài người.
Đó cũng là niềm sung sướng của Hội Thánh, bởi không chỉ ngày đổ máu của Chúa Kitô là ngày Hội Thánh đã được khai sinh, mà còn là ngày mà Hội Thánh sung sướng tiến vào cuộc sống mới của Thiên Chúa, được sống bằng chính sự sống của Thiên Chúa.
Càng suy niệm, chúng ta thấy nơi Thánh Giá, Chúa như tóm gọn cảnh một hành trình dài của con người đầy trắc trở, đầy mâu thuẫn, đầy xót xa, biến động. Và những gì diễn ra nơi Thánh Giá cũng như nơi cuộc đời con người vừa như tương tác lẫn nhau, vừa như hoàn toàn đối nghịch nhau.
Thánh Giá như tóm gọn hành trình của một kiếp người, như đang diễn tả toàn bộ mọi trạng thái của kiếp nhân sinh đang trải qua: Yêu thương và thù hận, thành công và thất bại, hy vọng và thất vọng, tin tưởng và sợ hãi, tự do và trói buộc, trung thành và phản bội, hạnh phúc và đau khổ, sự sống và giết chóc…
Đặc biệt, mỗi khi dừng lại ở từng chặng Đường Thánh Giá, Hội Thánh mời gọi mỗi người, không chỉ làm dấy lên trong tâm hồn một cảm xúc đối với cuộc khổ nạn, mà còn là ý thức hồng ân đã được lãnh nhận qua Đường Thương Khó, qua cây Thánh Giá của Chúa Giêsu, và qua đau khổ là mỗi cây thánh giá trong đời mỗi con người, để xây dựng thế giới tốt đẹp bằng cách mang tình yêu vào giữa lòng thế giới, làm cho con người được sống và sống dồi dào.
Chính vì sự liên quan mật thiết giữa Thánh Giá và những gì diễn ra trong đời người, cho ta hiểu rằng, cuộc sống hôm nay không tách rời Thánh Giá. Thánh Giá sẽ biến cuộc sống thành hoa quả ngày mai trong hạnh phúc vĩnh cửu. Bởi Thánh giá bao trùm trên cuộc sống hôm nay, nên ta tin tưởng, giá trị cuộc sống không là những thực tại trần gian nhưng là thực tại Nước Trời.
Chính nơi đó mới là quê hằng sống. Chính nơi đó mới là quê bình yên. Chính nơi đó mới là quê của niềm hy vọng.
Chỉ có nơi quê Trời ấy, ta mới thực sự thoát ly bất trung và bội phản, oán ghét và thù hận. Sẽ không bao giờ còn giết chóc, lừa lọc, gian dối.
Sẽ tiêu tan hết những áp bức, những chà đạp, những độc ác…
Và lúc đó, công lý được giương cao, hòa bình được trao tặng, sự thật được hoàn lại cho những ai đã từng bị cuộc sống hôm nay giày vò, ức hiếp.
Bởi đó là Nước mà lòng xót thương của Thiên Chúa ngự trị.
Mọi người là anh chị em có Thiên Chúa là Cha chung.
Nước mà giờ đây Thánh giá đã chiến thắng. Chúa Kitô sẽ giương cao ngọn cờ Thánh Giá như biểu tượng của một tình yêu tuyệt đỉnh, của một sự bình an không cùng mà chính Người đã đi qua cuộc đời này và nay trao lại cho chúng ta trong Nước hằng sống.
Cha Hoàng Kim để lại một bài Thánh Ca thường được hát trong Tuần Thánh, ai hát lên cũng thấy bàng hoàng xúc động:
“Thập giá ngất cao ở trên thế gian này
Ôi hỡi thập giá chúa Giêsu.
Từ nơi Thánh Tâm yêu thương Ngài,
Sông ơn thiêng khơi nguồn chan hòa,
Qua ngươi máu cứu độ chảy xuống nơi đây.
Ôi hỡi thập giá Chúa Kitô”.
“Thập giá ngất cao ở trên thế gian này, ôi hỡi Thập Giá Chúa Giêsu!”. Vâng! thập giá ở đâu mà chẳng có. Mấy chữ “ngất cao ở trên thế gian” vừa như muốn nói lên chiều cao, vừa như cho thấy chiều rộng, vừa như là sự cao cả, quý giá, nhưng cũng nặng nề, lo sợ.
Và Giữa một rừng thập giá của kiếp nhân sinh, lại thấy nổi lên, lại thấy “ngất cao” cây Thánh Giá của Chúa chúng ta. Thánh Giá của Chúa ngất cao là để tỏa bóng, để lôi kéo, để đỡ nâng, để thánh hóa tất cả mọi cây thập giá đời.
Vâng! Thập giá lúc nào mà không có. Không mời gọi, và dù run rẫy khi đón nhận, nhưng có ai thoát khỏi thập giá. Thập giá là người bạn không ai chờ đợi, nhưng nó vẫn cứ đến, vẫn cứ đồng hành trên suốt chặng đường đời của mỗi con người.
Là Kitô hữu, chúng ta hạnh phúc, vì thập giá của chúng ta đong đầy ý nghĩa.
Chúng ta biết, thập giá đời mình được tháp nhập, được lồng trong Thánh Giá Chúa Kitô.
Thập giá đời dẫu có “ngất cao ở trên thế gian này”, thì mãi mãi vẫn còn đó Thánh Giá Chúa Kitô soi bóng, chiếu sáng ý nghĩa, lan tỏa hạnh phúc, như mặt trời soi vào từng ngõ ngách của trần thế.
Cây thập giá được Chúa Giêsu chọn để làm nơi phó dâng linh hồn trong tay Chúa Cha đã trở nên báu vật của nhân loại và được gọi là Thánh Giá sau khi Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết và lên trời vinh hiển.
Thiên Chúa đã thánh hóa cây thâp tự:
- Từ một dụng cụ độc ác tàn nhẫn của con người thành công cụ của tình yêu thương, tha thứ.
- Từ biểu tượng của sự chết đã trở thành biểu tượng giải thoát con người khỏi phải án chết đời đời.
- Từ sự ô nhục, điên rồ và ngu xuẩn trở nên chiến thắng vinh quang của Đức Kitô.
Chúng ta, những Kitô hữu luôn kính mến và tôn xưng cây thập giá đồng hành với Chúa Giêsu trên đường lên núi Sọ là Thánh Giá.
Chúng ta vẫn thường đọc trước mỗi chặng đàng Thánh Giá: “Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô, vì Chúa đã dùng Thánh Giá mà chuộc tội cho thiên hạ”, thường làm dấu Thánh Giá trước khi cầu nguyện, thường ghi dấu Thánh Giá lên thân mình trước và sau khi dùng bữa, thường ghi dấu Thánh Giá trước bất cứ một nghĩa cử đạo đức nào…
Chúng ta thực sự hãnh diện, vui mừng vì Thánh Giá vinh quang của Chúa Giêsu trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa:
Vinh quang của ta
Là Thánh Giá Đức Kitô
Nơi Ngài, ơn cứu độ của ta
Sức sống của ta
Phục sinh của ta
Nhờ Chúa ta được cứu độ
Nhờ Chúa ta được giải thoát.
Vậy chúng ta hãy chạy đến với Chúa Giêsu vì chính Ngài là nguồn sức mạnh duy nhất có thể nâng đỡ và thêm sức cho chúng ta vác thập giá: "Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 1,28).
Xin Chúa ngự trị và cùng vác thập giá với ta hàng ngày. Nếu ta mang vác những gánh nặng, những trách nhiệm, những lo toan hàng ngày một mình thì sức nặng của cây thập giá đời mình sẽ càng nặng, càng đau đớn, càng u uất…
Nhưng nếu ta ngã mình vào Thánh Giá Chúa Giêsu, xin Ngài đồng hành với ta, thập giá đời ta, vẫn là thập giá ấy thôi, vẫn nặng nề, vẫn khổ đau, vẫn u uất, sẽ được biến đổi thành những cây Thánh giá phúc, có tình yêu của Chúa, có ơn cứu độ của Chúa, có sức mạnh của Chúa, có sức sống phục sinh của Chúa.
Mãi mãi thập giá không nhẹ. Nhưng tình yêu Thánh Giá sẽ làm thập giá dễ chịu hơn, và chan đầy ý nghĩa. mục lục
Lm. JB. NGUYỄN MINH HÙNG
Phong Trần
QUỲ BÊN CHÂN CHÚA
Phù Vân
THỜI KHẮC THIÊNG LIÊNG
Phù Vân
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.