5 LÝ DO ĐỂ HY VỌNG
Giáo Hội, hôn nhân, gia đình, cũng như xã hội nói chung đang trải qua một cuộc khủng hoảng với tỷ lệ nghiêm trọng. Nhiều người đang cảm thấy vô vọng. Tất cả mọi người sẽ đồng ý rằng điều tối cần thiết là hy vọng. Nhưng chúng ta phải đặt một cái gì đó dưới sự hy vọng của mình để biến nó thành hiện thực. Hy vọng chúng ta cần không phải là một mong muốn đơn thuần.
Nếu chúng ta hy vọng chiếc giày vừa vặn, trước tiên nên đo bàn chân. Nếu chúng ta hy vọng giảm cân thì nên ăn kiêng và tập thể dục. Hy vọng cần nền tảng. Vậy chúng ta nên làm gì để hy vọng của chúng ta trở thành hiện thực? Bài viết này trình bày năm lý do để hỗ trợ hy vọng đó.
Hơn 800 năm trước, một giáo dân nghèo đã cầu nguyện trong nhà thờ xứ bị đổ nát. Khi ngước nhìn Đức Kitô trên Thập Giá, ông thốt lên lời cầu này: “Lạy Thiên Chúa vĩ đại và vinh hiển, lạy Chúa Giêsu Kitô của con! Xin Ngài soi sáng cho con và giải trừ bóng tối trong tâm hồn con! Xin cho con đức tin thực sự, mục đích vững chắc và đức ái hoàn hảo. Lạy Chúa, xin ban cho con biết Chúa rõ ràng để con có thể hành động theo ánh sáng của Ngài và phù hợp với Thánh Ý Ngài trong mọi sự!”
Từ trên Thánh Giá, một giọng nói vang lên với anh ta: “Francesco, va e ripara la mia casa che, come vedi, e tutta in rovina.” [Phanxicô, hãy đi sửa lại ngôi nhà của Ta, vì như con có thể thấy, tất cả trong cảnh đổ nát.] Khi lời này, Phanxicô ngây ngất trong trạng thái xuất thần.
Sự trao đổi bằng lời nói này xuất xứ từ một nguồn đáng tin cậy, từ ngòi bút của Thánh Bonaventura (1221-1274), người đã viết cuốn “Cuộc Đời Phanxicô.” Theo thần học gia và triết gia vĩ đại dòng Phanxicô này, Chúa Kitô đã áp dụng những lời của Ngài cho nhiều điều khác hơn là nhà thờ đổ nát ở San Damiano, tức là cho Giáo Hội nói chung. Trong ngôn ngữ Ý, các chữ “casa” (ngôi nhà) và “chiesa” (nhà thờ) có cấu trúc tương tự nhau và gợi ý một sự thân thiết nhất định giữa ngôi nhà và nhà thờ. Thậm chí sự giống nhau đó còn rõ ràng hơn trong tiếng Latinh giữa các từ “ecclesiola” (nhà thờ nhỏ) và “Ecclesia” (Giáo Hội). Ngôi nhà, gia đình và Giáo Hội phải được hiệp nhất mật thiết với nhau để bất kỳ ai trong số họ đều có thể thịnh vượng.
Kinh nghiệm của Thánh Phanxicô Assisi trong nhà thờ tồi tàn đó cung cấp cho chúng ta 5 lý do để hy vọng.
1. Cuộc khủng hoảng hiện nay trong Giáo Hội không phải là duy nhất. Các cuộc khủng hoảng đã xảy ra trước đây nhưng Giáo Hội đã phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Kiến thức về lịch sử có thể là nguồn an ủi và động lực. Quan điểm có thể giúp đỡ để chúng ta không bỏ cuộc.
2. Thánh Phanxicô, còn gọi là “Poverello,” vì chấp nhận nghèo khó và là một giáo dân khiêm tốn. Vì vậy, chúng ta có thể nhìn đến giáo dân để đóng góp đáng kể vào việc xây dựng lại Giáo Hội, và chính Giáo Hội sẽ được đổi mới từ nền tảng. Giáo dân có thể chủ động, họ không cần phải đợi các giáo sĩ giao nhiệm vụ.
3. Rõ ràng trong lời Chúa nói với Phanxicô rằng Ngài muốn Giáo Hội của Ngài được sửa chữa. Phần còn lại của giải pháp nằm ở việc chúng ta tìm cách hợp tác với ân sủng của Thiên Chúa. Ngài nắm quyền và sẽ không để cho các tôi tớ trung thành của Ngài phải thất bại.
4. Chúa Giêsu nói với Phanxicô từ Thập Giá. Con đường đổi mới sẽ không dễ dàng, đòi hỏi nhiều hy sinh như Chúa Giêsu xác định: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy.” (Mt 7:13-14) Thập Giá đối lập trực tiếp với đường lối của thế gian.
5. Việc Phanxicô cầu xin Thiên Chúa ban đức tin, hy vọng và lòng bác ái cho thấy tầm quan trọng không chỉ của các nhân đức siêu nhiên này, mà còn cả các đức tính hằng ngày như lịch sự, khiết tịnh, từ bi, chăm sóc,... Khi chúng ta cư xử một cách đạo đức là chúng ta đang sống cuộc đời của Đức Kitô. Bằng cách noi gương Ngài, chúng ta cũng góp phần vào việc sửa chữa Giáo Hội của Ngài.
Như đã nói trên đây, 5 lý do này đều ủng hộ niềm hy vọng của chúng ta, cung cấp nền tảng cho sự hy vọng thực sự. Viễn cảnh, vai trò giáo dân, lời Chúa hứa hợp tác, đánh giá Con Đường Thập Giá, và sự sẵn lòng sống đạo đức của chúng ta, cung cấp những viên gạch vững chắc mở đường cho sự đổi mới của Giáo Hội hiện đang trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng.
Chúng ta có thể được khuyến khích và truyền cảm hứng bởi những lời nói và di sản của hai vị thánh Phan Sinh vĩ đại: Thánh Phanxicô Assisi và Thánh TS Bonaventura. Các ngài sống ở thế kỷ XIII, nhưng tấm gương của họ vẫn tiếp tục nuôi dưỡng chúng ta về mặt tinh thần và cung cấp niềm hy vọng cho chúng ta.
Ước gì chúng ta có thể cầu nguyện với lòng khiêm nhường chân thành như Thánh Phanxicô!
ƠN GỌI GIÁO DÂN
Năm 1903, Hồng Y Đoàn nhóm họp tại Rôma để bầu người kế vị Đức Lêô XIII, người đã trị vì 25 năm. Nhiều người nghĩ rằng mật nghị sẽ bầu ĐHY Mariano Rampolla, người từng giữ chức vụ Ngoại trưởng có ảnh hưởng của Đức Lêô XIII. Khi rõ ràng ĐHY Rampolla đang chốt số phiếu để được bầu, Đức Tổng giám mục Krakow đã can thiệp.
Hoàng đế Áo Franz Joseph đã chỉ thị cho thần dân Cracovia sử dụng quyền Ius Exclusivae – một quyền loại trừ được một số quốc vương Công giáo tuyên bố để phủ quyết một ứng viên duy nhất trong mật nghị – chống lại Rampolla. Ngay lập tức Hồng Y Đoàn không đồng ý với yêu cầu của Hoàng đế, nhưng sau nhiều vòng bỏ phiếu nữa, người được bầu chính là ĐHY Giuseppe Sarto, không phải ĐHY Rampolla, và ngài đã nổi bật giữa mật nghị với tư cách là Giám Mục Mới của Rôma. Tân Giáo hoàng lấy tông hiệu là Piô X.
Mật nghị năm 1903 không phải là lần đầu tiên một quốc vương Công giáo phủ quyết một ứng viên trong mật nghị, nhưng đó là lần cuối cùng. Chỉ vài tháng sau khi được bầu cử, Đức Piô X đã chấm dứt Ius Exclusivae một lần và mãi mãi.
Còn hơn một chút hấp dẫn về chuyện vặt vãnh của Công giáo, câu chuyện Mật nghị năm 1903 cũng là lời nhắc nhở rằng giáo dân Công giáo trong quá khứ đã tạo ảnh hưởng lớn trong Giáo hội – ngay cả khi theo những cách không phải lúc nào cũng có ý nghĩa thần học, hoặc ngồi đúng với hệ thống tôn ti trật tự.
Vẫn còn lại một vài dấu tích còn sót lại của trật tự cũ. Ví dụ, Tổng thống Cộng hòa Pháp vẫn giữ quyền đề cử các giám mục của Metz và Strasbourg. Sự thỏa thuận giữa Tòa Thánh Vatican với Trung quốc là một bước lùi xa (và nguy hiểm hơn), nhường quyền đề cử cho Bắc Kinh một cách hiệu quả.
Sắc lệnh Christus Dominus của Công đồng Vatican II (28-10-1965) về nhiệm vụ Giám mục trong Giáo hội, rõ ràng phản đối việc mở rộng các quyền như vậy cho các nhà chức trách thế tục (không nói đến chính phủ cộng sản vô thần): “Thánh Công đồng muốn rằng trong tương lai không còn quyền hoặc đặc quyền bầu cử, đề cử, trình bày hoặc chỉ định chức giám mục được cấp cho các cơ quan dân sự.”
Nếu Công đồng Vatican II nhấn mạnh lời kêu gọi nên thánh toàn cầu và trách nhiệm thiết yếu của tất cả những người được rửa tội đối với sứ mệnh của Giáo hội, Công đồng này cũng khép lại một số cách thức rõ ràng hơn, trong đó giáo dân có ảnh hưởng đến đời sống và sự lãnh đạo của Giáo hội.
Với mức độ nhất định, ít nhất là ở Tây phương, phần lớn thời kỳ hậu Công đồng đã được đánh dấu bằng nỗ lực xác định quyền giáo dân: không phải ở con người của các hoàng tử Công giáo, mà ở một cách thức dân chủ hơn.
Ví dụ rõ ràng và gần đây nhất về điều này là Đường lối Thượng hội đồng Đức, coi “quyền lực” một cách rõ ràng là một trong bốn diễn đàn chính để thảo luận. Thượng hội đồng về tính hiệp hành, tùy thuộc vào việc ai đang nói về nó, cũng thường được mô tả là dân chủ hóa và phân quyền của Giáo hội, bất chấp những cảnh báo liên tục của ĐGH Phanxicô chống lại những nỗ lực tìm hiểu tính công nghị qua các phạm trù như vậy.
Trong khi đó, hình thức chủ nghĩa giáo sĩ nguy hiểm và phổ biến nhất trong Giáo hội ngày nay – niềm tin không thể chối cãi rằng thước đo của một giáo dân là sự gần gũi với quyền giáo sĩ – vẫn tiếp tục lan tràn. Đó là ý tưởng được phổ biến chủ yếu bởi giáo dân.
Trong khi nhiều giáo dân tiếp tục tranh giành một chỗ ngồi tại bàn giáo sĩ – lo lắng về việc ai được ở trong cung thánh trong Thánh Lễ hoặc phục vụ là người đứng đầu Giáo hội này hoặc giáo sĩ khác trong Giáo triều Rôma – những cánh đồng nho rộng lớn đang rơi vào tình trạng lộn xộn chỉ có thể được giáo dân chăm sóc.
Hãy lấy ví dụ cuộc sống gia đình. Công đồng đã nói rất hay về vai trò thiết yếu của hôn nhân và gia đình trong việc truyền bá đức tin.
Từ hôn nhân của các Kitô hữu mà có gia đình, trong đó các công dân mới của xã hội loài người được sinh ra, những người nhờ ơn Chúa Thánh Thần đã lãnh nhận khi chịu phép rửa, được làm con Thiên Chúa, do đó dân Chúa tồn tại qua các thế kỷ. Có thể nói rằng gia đình là Giáo hội tại gia. Trong đó, bằng lời nói và gương sáng, các bậc cha mẹ phải là những người rao giảng đức tin đầu tiên cho con cái, họ nên khuyến khích chúng theo ơn gọi phù hợp với mỗi người, nuôi dưỡng ơn gọi quan tâm đặc biệt đối với tình trạng thiêng liêng.
Nhưng tại Hoa Kỳ, trong những năm kể từ khi có Công đồng, số lượng các cuộc hôn nhân Công giáo đã giảm.
Theo tổ chức CARA, có 426.309 hôn lễ Công giáo được cử hành ở Hoa Kỳ vào năm 1969, khi có khoảng 50 triệu người Công giáo tại nước này. Năm 2014, số người Công giáo ở nước này đã tăng lên khoảng 70 triệu người – nhưng lần đầu tiên số lượng các cuộc hôn nhân Công giáo giảm xuống dưới 150.000 hôn lễ. Năm 2020, chắc chắn vì đại dịch, tổng số hôn lễ Công giáo được cử hành ở Hoa Kỳ giảm xuống còn 97.200 hôn lễ.
Khi hình thành các cuộc hôn nhân Công giáo – một phần trọng tâm và không thể thay thế của ơn gọi giáo dân, người Công giáo đang thất bại kinh khủng. Không có gì ngạc nhiên, khi nói đến việc nâng cao thế hệ người Công giáo tiếp theo, những con số cho thấy giáo dân Công giáo cũng đang thất bại trong ơn gọi của họ. Năm 1969, có hơn 1 triệu trẻ sơ sinh được rửa tội; năm 2014, con số giảm xuống dưới 700.000 em. Những cuộc rước lễ lần đầu cũng giảm đáng kể.
Đây không phải là tin tức, xu hướng đã rõ ràng trong nhiều thập kỷ qua. Trong hầu hết các trường hợp, đại dịch đã nhanh chóng thúc đẩy sụp đổ mau chóng. Thậm chí chúng ta còn chưa đề cập việc truyền bá văn hóa hay kinh tế hay chính trị – tất cả chủ yếu là trách nhiệm của giáo dân.
Công đồng Vatican II đã hình dung sự phục hồi của ơn gọi giáo dân. Trong những năm gần đây, việc đổ lỗi cho giáo hoàng, giám mục hay linh mục về tình hình công việc, giáo dân cần tự hỏi tại sao phần vườn nho của chúng ta lại rơi vào tình trạng lộn xộn như vậy.
Stephen p. White - https://www.thecatholicthing.org
Trầm Thiên Thu chuyển ngữ
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.