Tại sao bạn nên đi xưng tội trong mùa Chay này?

15-03-2023 2,622 lượt xem

Ảnh: Internet

Mùa Chay là thời gian trong năm khi Thiên Chúa thúc bách chúng ta phải chuẩn bị tâm can và thanh tẩy linh hồn để sẵn sàng đón nhận Chúa chúng ta khi Ngài đến trong vinh quang vào lễ Phục Sinh. Không có thời gian để trì hoãn. Kinh Thánh nói, “Vậy, đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ.” (2 Cr 6,2).

Trong suốt mùa này, mỗi ngày chúng ta nên cố gắng tự vấn lương tâm ngay lành của mình bằng cách tự chất vấn mình với những câu hỏi sau:

  • Có điều gì tôi có thể làm để đến gần Chúa hơn không?

  • Có điều gì tôi có thể làm để biết Chúa nhiều hơn và yêu mến Ngài hơn không?

  • Có cách nào tôi có thể tăng lòng hăng say cầu nguyện không?

  • Có cách nào để tôi có thể thắp lại ngọn lửa tình yêu thiêng liêng có thể đã tắt trong cuộc đời tôi không?

  • Có cách nào để tôi có thể tự thoát khỏi sự nguội lạnh thiêng liêng, sự thờ ơ thiêng liêng mà tôi thường thấy trong thời gian qua không?

  • Có điều gì tôi có thể từ bỏ không?

  • Có điều gì trong cuộc sống của tôi lúc này không đẹp lòng Thiên Chúa toàn năng không?

  • Có tội nào mà tôi đang vẫn tiếp tục phạm không?

  • Có tội thường xuyên nào đang ngăn cách trái tim tôi với ân sủng yêu thương của Thiên Chúa không?

  • Có điều gì tôi cần xưng thú không?

  • Tôi có đang đóng đinh Chúa chúng ta một lần nữa bằng đời sống tội lỗi của mình không?

Hơn nữa, chúng ta nên cầu nguyện mỗi ngày:

Lạy Chúa, hãy dành cho con ít hơn và nhiều hơn cho Ngài. Hãy để con nói không với ý muốn của con và xin vâng với ý Chúa. Chúa ơi, xin Chúa ban ơn để con yêu Ngài hôm nay hơn hôm qua và ngày mai hơn hôm nay.

Jacinta, thị chứng nhân ở Fatima đã nói lên sự thật đầy thách thức này: “Nếu con người biết thế nào là vĩnh cửu, thì họ sẽ nỗ lực hết mình để sửa đổi cuộc sống của họ.” Với tư tưởng này, chúng ta hãy khám phá đặc ân mà Thiên Chúa ban cho chúng ta trong Bí tích Giải tội, để giúp chúng ta trên hành trình nên thánh đó.

Hãy tỉnh thức

Trong suốt Tin Mừng, Chúa chúng ta đã cảnh báo chúng ta là hãy tỉnh thức. Chúng ta phải canh chừng, và điều đó có nghĩa là giữ linh hồn mình trong tình trạng ân sủng, bởi vì chúng ta không bao giờ có thể biết được ngày hay giờ Ngài sẽ đến.

Để giúp chúng ta làm được điều đó, Thiên Chúa toàn năng đã ban cho chúng ta món quà tuyệt vời là Lòng Thương Xót của Ngài trong Bí tích Thống hối. Đối với tôi, điều này đã trở nên rõ ràng một cách đau xót, cả từ kinh nghiệm mục vụ cá nhân và từ dữ liệu khảo sát, là phần lớn người Công giáo ở nước ta đã từ bỏ thực hành việc Xưng tội từ lâu. Đây thực sự là một bi kịch. Trên hết, bí tích Sám Hối là phương tiện thông thường để tha những tội trọng đã phạm sau khi đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Nhưng nó cũng là một kho tàng ân sủng đích thực và là sức mạnh tinh thần cho chúng ta trong cuộc chiến hàng ngày chống lại tội lỗi và cám dỗ.

Đức Thánh Cha Piô XII đã nói nhiều lần rằng tội lỗi lớn của thời đại chúng ta thực ra là việc chối tội. “Tội lỗi” đã trở thành một từ bẩn thỉu mà chúng ta không muốn nhắc đến nữa, ngay cả trên bục giảng. Bạn có thấy kỳ quặc không? Khi trên thế giới càng có nhiều tội lỗi, thì dường như càng ít người Công giáo – hàng giáo sĩ, các nhà thần học và giáo dân – nói về nó? Đây là sự điên loạn theo nghĩa thần học. Tệ hơn nữa, đó là sự tự sát về mặt tinh thần. Chỉ có một thứ duy nhất có thể tách chúng ta khỏi Thiên Chúa, đó là tội trọng. Che giấu thực tại của tội lỗi, khá đơn giản, là chơi trò chơi của ma quỷ. Đó là rơi vào cạm bẫy của nó.

Tôi nhớ lại lời của thánh Phaolô: “Sẽ đến thời người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của mình mà kiếm hết thầy này đến thầy nọ, bởi ngứa tai muốn nghe.” (2 Tm 4,3). Giờ đây, ngày đó giờ đã đến. Hầu hết con người ngày nay đều coi việc tận hưởng cuộc sống này quan trọng hơn sự vĩnh cửu. Chúng ta không muốn nghe sự thật vì sự thật khiến chúng ta cảm thấy không thoải mái – bởi vì sự thật đôi khi đòi hỏi chúng ta phải thay đổi đời sống, tâm trí và trái tim của mình hướng về Thiên Chúa và tha nhân.

Sự sám hối theo nghĩa Kinh Thánh

Khi Chúa Giêsu kêu gọi mười hai Tông đồ và bắt đầu sai họ đi rao giảng, Ngài ban cho họ uy quyền và sức mạnh để chữa bệnh, làm cho kẻ chết sống lại và cho người mù nhìn thấy, quyền trừ quỷ và làm cho những người bại liệt đi lại được. Sức mạnh ở đây chính là việc mang lại sự chữa lành mọi thứ đau khổ của con người. Nhưng Tin Mừng cũng cho chúng ta biết rằng, mặc dù có uy quyền ghê gớm đó, nhưng sứ vụ quan trọng nhất mà Đức Kitô đã trao cho các Tông đồ là rao giảng về sự cần thiết của sự sám hối. “Sám hối” là một trong những từ quan trọng nhất và được dùng thường xuyên nhất trong toàn bộ Kinh Thánh.

Những lời đầu tiên của Chúa Giêsu khi Ngài bắt đầu sứ vụ công khai của Ngài là, “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.” (Mt 4,17). Và Chúa đã nói với các Tông đồ rằng, ở bất cứ nơi nào mà người ta từ chối nghe lời đó và hành động theo lời đó, thì họ phải rời khỏi đi và giũ bụi dưới chân mình để làm chứng chống lại những người đó (Mt 10,14). Mọi sứ giả từng được Thiên Chúa sai đi trong Cựu ước và cả Tân ước đều đến để rao giảng một thông điệp về sự sám hối. Không ai có thể là người môn đệ của Đức Kitô, hoặc thậm chí xưng danh là “Kitô hữu”, nếu người đó không sẵn lòng sám hối.

Sám hối là gì?

Chính xác thì chúng ta đang nói về điều gì khi nói về sự sám hối? Trước tiên và ở mức độ đơn giản nhất, sám hối nghĩa là nhìn nhận thực tại tội lỗi của bản thân trong cuộc sống của bạn – và quay lưng lại với nó. Nó có nghĩa là loại bỏ tội lỗi ra khỏi cuộc sống của bạn và thay đổi cuộc sống của bạn theo Ý Chúa, ngay cả khi Ý muốn của Thiên Chúa không tương hợp với ý riêng của bạn.

Thứ hai, sám hối nghĩa là tìm kiếm tình yêu thương xót của Thiên Chúa với tinh thần thống hối thực sự. Thống hối không chỉ là đau khổ vì tội lỗi; Có ba yếu tố dẫn đến sự thống hối đích thực: buồn phiền vì những tội lỗi bạn đã phạm, ghét những tội lỗi đó và tất cả các tội nói chung, và chắc chắn hướng tới sửa đổi, nghĩa là bạn có ý cố gắng, với sự trợ giúp của ơn Chúa, không phạm những tội tương tự trong tương lai.

Thứ ba, sám hối nghĩa là chấp nhận lời Chúa và lề luật của Chúa và biến nó thành lối sống của bạn. Nó có nghĩa là đặt đức tin vào hành động. Chúng ta được cứu bởi đức tin hoạt động qua tình yêu. Ơn cứu độ không chỉ bởi đức tin, và nó không bao giờ là như vậy. Thánh Giacôbê đã viết, “Đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết.” (Gc 2,17). Đức tin của chúng ta phải là một đức tin sống động. Nó không thể ở trạng thái bất động hoặc tê liệt. Sự sống động sẽ không cắt lìa đức tin với Thiên Chúa.

Và cuối cùng, sám hối có nghĩa là thực thi việc đền tội. Cho dù chúng ta có nhận thức điều đó hay không, ngay cả những tội lỗi ẩn sâu nhất theo một cách bí ẩn nào đó cũng làm đảo lộn toàn bộ trật tự tạo dựng của Thiên Chúa. Chúng gây ra sự suy giảm ân sủng nơi Nhiệm Thể của Chúa Kitô. Thiên Chúa mong đợi chúng ta đền bù những tổn hại do tội lỗi của chúng ta gây ra với Ngài và với những người lân cận.

Không ai trong chúng ta có thể nhìn thấy viễn cảnh về Thiên Chúa trên Thiên đàng trừ khi chúng ta đủ khiêm tốn để nhận biết và thừa nhận rằng chúng ta là những tội nhân cần lòng thương xót của Chúa. Không có ngoại lệ. Chúng ta đừng bao giờ xấu hổ hoặc sợ hãi khi thừa nhận điều đó vì Kinh Thánh nói rằng: “Mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa” (Rm 3,23).

Bí tích Thống hối

Chúa Giê-su nói với các Tông Đồ của Ngài trong Vườn Ghết-sê-ma-ni rằng: “Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn.” (Mt 26,41). Tất cả chúng ta đều cảm thấy sức hấp dẫn của tội lỗi trong cuộc sống của mình. Tất cả chúng ta đều phải đấu tranh để kiểm soát những đam mê rối loạn của mình. Luôn luôn có nguy cơ chúng ta có thể đầu hàng trước cám dỗ và sa vào tội trọng trong một lúc yếu đuối. Do đó, chúng ta luôn cần có sự sám hối trong cuộc sống.

Đây là lý do tại sao Chúa của chúng ta trong sự khôn ngoan vô hạn của Ngài đã ban cho chúng ta bí tích của Lòng Thương Xót của Ngài, Bí tích Thống hối! Ngài đã ban cho chúng ta vào Chúa Nhật Phục Sinh đầu tiên, khi Ngài hiện ra với các Tông Đồ trong Nhà Tiệc Ly sau khi Ngài phục sinh, một thời điểm quan trọng trong lịch sử của Giáo Hội. Chúng ta được kể về điều này trong Phúc âm của Thánh Gioan: “Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.” (Ga 20, 22–23).

Mọi người Công giáo nên ghi nhớ những câu Kinh thánh đó. Chúng ta nên học thuộc lòng để có thể sẵn sàng trả lời bất cứ khi nào đức tin của chúng ta bị chất vấn về vấn đề này. Tin Mừng cho chúng ta thấy rõ ràng rằng Chúa Giêsu đã ban cho các môn đệ của Ngài quyền năng để tha tội nhân danh Ngài. Nhưng – và điều này rất quan trọng – Ngài đã không cho họ sức mạnh để “đọc vị” suy nghĩ! Làm sao các môn đệ có thể biết tội nào nên tha và tội nào giữ lại nếu không có ai xưng tội? Chúng ta thực hành việc xưng tội vì nó đã được truyền lại cho thế hệ chúng ta từ các Tông đồ bởi ý muốn của Đức Giêsu Kitô, là Chúa và là Đấng Cứu Độ chúng ta. Đó là lý do tại sao việc xưng tội, dưới hình thức này hay hình thức khác, đã được các Kitô hữu thực hành ngay từ thuở đầu.

Sự biến đổi nội tâm

Bạn thấy đấy, Chúa Giêsu để lại cho chúng ta bí tích này vì Ngài biết rõ tội và mặc cảm tội lỗi có thể gây ra điều gì cho linh hồn con người. Chúng có thể xé nát và chia cắt linh hồn chúng ta khỏi Thiên Chúa. Chúng có thể khiến một người tuyệt vọng. Thiên Chúa biết chúng ta cần phải có cách nào đó để thoát khỏi tội lỗi và mặc cảm vì chúng có thể cướp đi sự bình an và niềm vui nội tâm mà lẽ ra là của chúng ta với tư cách là Kitô hữu – sự bình an và niềm vui đi kèm với việc có lương tâm trong sạch trước mặt Thiên Chúa.

Tinh thần con người cần được bình an với Thiên Chúa, và được bình an với chính mình. Chúng ta cần biết rằng chắc chắn Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng ta. Chúng ta cần có khả năng kinh nghiệm về tình yêu thương xót của Thiên Chúa khi tình yêu ấy chạm đến cuộc sống của chúng ta. Chúng ta biết rõ là sẽ có những lúc trong đời, khi nào chúng ta cần một sự khởi đầu thiêng liêng mới mẻ, khi nào chúng ta cần phải để lại sau lưng quá khứ lầm lỗi và khởi động lại lần nữa. Khi làm điều này, chúng ta sẽ rất cần ân sủng của Thiên Chúa gia tăng sức mạnh để tránh đi những tội lỗi tương tự trong tương lai. Đó là cách bí tích Giải tội giúp chúng ta được biến đổi nội tâm.

Việc xưng tội dẫn đến sự thánh thiện

Vẻ đẹp của Bí tích Sám hối là: bất cứ khi nào bạn thú nhận tội lỗi với tất cả khả năng và trí nhớ – khi bạn không giữ lại bất cứ điều gì và bạn thực sự hối lỗi và quyết tâm sửa lỗi – bạn sẽ luôn luôn rời khỏi tòa giải tội với sự đảm bảo đầy tin tưởng về sự tha thứ hoàn toàn của Thiên Chúa.

Nhiều người lo lắng một cách không cần thiết về những tội mà họ có thể đã quên trong lúc họ xưng thú. Nhưng tâm trí con người không giống như một chiếc máy tính có thể truy cập tất cả dữ liệu đúng lúc nó cần. Ký ức của chúng ta bị mờ đi với bản chất con người sa ngã của chúng ta. Khi bạn đã thực hiện tốt việc xưng tội, mọi tội lỗi của bạn đều được tha thứ, miễn là bạn có một con tim biết thống hối. Chúa nhìn thấy tận bên trong trái tim. Và nếu sau này bạn nhớ lại tội nào đó mà bạn đã quên xưng, hãy nhắc lại nó trong lần xưng tội tiếp theo. Đơn giản là thế.

Có một ý tưởng về việc cố sao cho tránh xa hoàn toàn tội trọng và truy tìm sự thánh thiện thực sự trong cuộc đời. Nhắm tới việc trở thành các thánh! Những ai chìm đắm vào lối suy nghĩ tự mãn này đã quên mất sức mạnh của ân sủng bí tích – bởi lẽ bí tích là rào chắn hiệu quả để chống lại tội lỗi và là phương tiện thực sự hữu hiệu để bản thân nên thánh.

Chính vì tình yêu vô biên của Thiên Chúa dành cho chúng ta mà Ngài đã truyền lệnh cho chúng ta sử dụng Bí tích Sám hối. Chính trong bí tích này, chúng ta phó thác quá khứ cho lòng thương xót của Thiên Chúa, hiện tại cho tình yêu của Ngài, và tương lai cho sự quan phòng của Ngài.

Lm. WILLIAM CASEY - https://catholicexchange.com
Tô Linh chuyển ngữ - Bản dịch Kinh Thánh của nhóm CGKPV

MẪU XÉT MÌNH TRƯỚC KHI XƯNG TỘI

(Dịch theo nguyên bản tiếng Ý do Phòng đặc trách các Buổi cử hành do Đức Thánh Cha chủ sự, ngày 11-03-2015 -- Linh mục Phanxicô Borgia Trần Văn Khả, ngày 12-03-2015).

1. Tôi có đi xưng tội với một lòng ao ước chân thành để được thanh luyện, để trở về, canh tân đời sống và nên bạn nghĩa thiết hơn với Thiên Chúa, không? hay tôi coi đó như là một gánh nặng, mà vì thế họa hoằn tôi mới sẵn sàng thực hiện việc này?

2. Tôi đã quên, hoặc, cố tình che giấu các tội trọng trong dịp xưng tội lần trước hoặc trong những lần xưng tội trước đây?

3. Tôi đã làm việc đền tội mà Cha giải tội đã ra cho tôi, chưa? Tôi đã đền bù các lỗi lầm mà tôi đã gây ra chưa? Tôi có cố gắng đem ra thực hiện các quyết định được đề ra để sửa trị đời sống của tôi theo Phúc Âm?

Dưới ánh sáng của Lời Chúa, mỗi người xét mình.

I. Chúa nói : "Con hãy yêu mến Thiên Chúa của con hết lòng con".

1. Con tim của tôi có thực sự hướng về Thiên Chúa không; tôi có thể nói là tôi yêu mến Thiên Chúa thực sự, trên hết mọi sự và với tình yêu của một người con, trong việc trung thành giữ các giới răn của Ngài không? Tôi có để cho mình bị nhào lộn với các sự vật trần thế chóng qua không? Và ý hướng hành động của tôi có luôn ngay thẳng không?

2. Đức tin của tôi vào Thiên Chúa có vững vàng không? Chúa là Đấng, mà trong Con của Ngài, đã ngỏ lời của Ngài với chúng ta? Tôi có chấp nhận hoàn toàn vào giáo huấn của Giáo Hội không? Tôi có lưu tâm tới việc huấn luyện Kitô của tôi, qua việc lắng nghe Lời của Thiên Chúa, tham dự vào các buổi học giáo lý, tránh xa tất cả những điều có thể lừa dối đức tin của tôi? Tôi có luôn luôn tuyên xưng đức tin của tôi vào Thiên Chúa và nơi Giáo Hội với sự can đảm và không sợ hãi không? Tôi có lo biểu lộ tôi là người Kitô trong đời sống riêng tư và công cộng của tôi không?

3. Tôi có cầu nguyện ban sáng và ban chiều không? Và lời cầu nguyện của tôi có thực sự là cuộc nói chuyện với Thiên Chúa, như con tim với con tim, hoặc đó chỉ là việc thực hành đạo đức trống rỗng bên ngoài? Tôi có biết dâng lên Thiên Chúa các mối lo nghĩ bận tâm của tôi, các niềm vui và các đau khổ của tôi không? Tôi có tin tưởng nhớ đến Ngài cả trong những con cám dỗ không?

4. Tôi có tôn kính và yêu mến danh thánh của Thiên Chúa, hoặc tôi đã xúc phạm tới danh thánh đó với những lời chửi rủa, thề gian thề dối, với việc kêu tên Ngài vô cớ? Tôi có bất kính với Đức Mẹ và các Thánh không?

5. Tôi có thánh hóa Ngày của Chúa và các Lễ của Giáo Hội không, với việc tham dự cách tích cực, chú ý và đạo đức, vào các buổi cử hành phụng vụ, và nhất là Thánh Lễ không? Tôi có tránh làm việc không cần thiết trong các Ngày Lễ không? Tôi có giữ luật buộc xưng tội một năm ít là một lần không và có rước lễ trong Mùa Phục Sinh không?

6. Tôi có tôn thờ những "loại thần thánh khác" không? Nghĩa là các cách biểu lộ hoặc các sự vật mà tôi lưu tâm tới hoặc những vật mà tôi đặt tín thác vào chúng hơn là vào Thiên Chúa, thí dụ, của cải giầu sang, mê tín dị đoan, lên đồng bóng và các hình thức khác tương tự?

II. Chúa nói : "Các con hãy yêu mến nhau, như Cha đã yêu các con".

1. Tôi có thực sự yêu mến tha nhân không, hoặc tôi lại lợi dụng anh chị em của tôi, dùng họ vào các mối lợi của tôi và đối xử với họ theo cách mà chính tôi cũng không muốn bị đối xử như thế ? Tôi có gây nên gương mù gương xấu bằng lời nói và các hành động của tôi không?

2. Trong gia đình của tôi, tôi có kiên nhẫn và với tình yêu chân thực đóng góp vào việc ích lợi chung và vào cuộc sống thanh thản của người khác không?

Với từng thành phần trong gia đình :

- Với con cái. Tôi có vâng lời cha mẹ tôi không, tôi có kính trọng và làm vinh danh họ không? Tôi có trợ giúp họ trong các nhu cầu cần thiết về đàng thiêng liêng và vật chất không? Tôi có dấn thân tại trường học không? Tôi có kính trọng quyền bính không? Tôi có nêu gương tốt trong mọi hoàn cảnh không?

- Với cha mẹ. Tôi có lo lắng giáo dục con cái theo tinh thần Kitô không? Tôi đã làm gương tốt cho chúng không? Tôi có nâng đỡ chúng và hướng dẫn chúng với quyền hành của tôi không?

- Với vợ chồng. Tôi có luôn trung thành trong tình cảm và hành động của tôi không? Tôi có biết thông cảm trong những giờ phút lo âu không?

3. Tôi có biết cho đi từ chính tôi, mà không sống cô lập ích kỷ với những ai nghèo túng hơn tôi không? Hoặc tôi có đối xử với tốt với người thân cận, đặc biệt với những người nghèo, yếu đuối, những người bị loại ra ngoài, những người di dân không?

4. Tôi có chú ý tới sứ mệnh được trao phó cho tôi không? Tôi có tham gia vào các công việc tông đồ và bác ái của Giáo Hội, vào các sáng kiến và vào đời sống của giáo xứ không? Tôi có cầu nguyện và đóng góp vào cho các nhu cầu của Giáo Hội và của thế giới không, thí dụ : cho việc nhất của Giáo Hội, cho việc rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, cho việc thiết lập hòa bình và công lý, không?

5. Tôi có lưu tâm tới thiện ích và sự thịnh vượng của cộng đoàn nhân loại, trong đó tôi đang sống hay tôi chỉ lưu tâm tới ích lợi riêng của tôi? Theo sức có thể, tôi có tham gia vào các sáng kiến hầu cổ võ công lý, nền luân lý công cộng, sự hài hòa, các việc gây phúc thiện, không? Tôi có thực hiện các bổn phận người công dân không? Tôi có trả thuế má đều đặn không?

6. Tôi có sống công bằng, dấn thân, lương thiện trong việc làm, có sẵn sàng muốn đóng góp việc phục vụ của tôi vào công ích không? Tôi có trả lương theo lẽ công bằng cho các công nhân và tất cả những người dưới quyền của tôi, không? Tôi có chu toàn các thỏa thuận và giữ trung thành với các lời hứa không?

7. Tôi có thể hiện với nhà cầm quyền chân chính, sự vâng lời và sự kính trọng đúng hợp không?

8. Nếu tôi có giữ nhiệm vụ nào hoặc thi hành công việc lãnh đạo nào, tôi có lo chỉ tìm đem lại ích lợi cho tôi hay tôi dấn thân lo cho ích lợi của người khác, với tinh thần phục vụ?

9. Tôi có sống sự thật và sự trung tín, hay tôi đã đem lại điều xấu cho người khác bằng các lời nói dối, các lời thóa mạ, xuyên tạc, các phán đoán quá chủ quan của tôi, và vi phạm các điều bí mật?

10. Tôi có xúc phạm tới sự sống và sự an toàn thế lý của người thân cận không? Tôi có làm tổn thương đến danh dự của họ, có làm thiệt hại của cải họ có, không? Tôi có gây ra hoặc khuyên thực hiện việc phá thai không? Tôi có nín thinh trong những hoàn cảnh mà trong đó tôi có thể khích lệ thực hiện điều lành không? Trong cuộc sống hôn nhân tôi có kính trọng giáo huấn của Giáo Hội với việc mở ra đón nhận sự sống và kính trọng sự sống không? Tôi có hành động chống lại sự toàn vẹn thể xác (thí dụ : làm mất khả năng sinh sản) không? Tôi có luôn luôn trung thành cả trong tâm trí của tôi không? Tôi có giữ lại trong tôi sự thù oán một ai không? Tôi có hay cãi lẫy sinh sự không? Tôi có nói những lời xỉ nhục và những lời nói xúc phạm, khi gây ra những cuộc xô xát và hận thù không? Tôi có cố tình phạm lỗi và bỏ qua cách ích kỷ làm chứng về sự vô tội của người thân cận không? Khi lái xe, hoặc khi xử dụng các phương tiện giao thông khác tôi có để tôi và người khác rơi vào tình trạng nguy hiểm không?

11. Tôi có trộm cắp không? Tôi có ham muốn một cách bất chính của cải của người khác không? Tôi có làm thiệt hại về tiền của cuẩ tha nhân không? Tôi có đền bù những gì tôi đã lấy đi và tôi có đền bù lại các thiệt hại đã gây ra không?

12. Tôi đã có nhận các điều thiệt hại, sai lỗi, vậy tôi có sẵn sàng làm hòa và tha thứ vì tình yêu của Đức Kitô, hoặc giữ lại trong con tim của tôi sự ghét ghen và ước muốn trả thù?

III. Đức Kitô, Chúa nói : "Các con hãy nên trọn lành như Cha"

1. Đâu là hướng định nền tảng của đời sống của tôi? Tôi có lo lắng với niềm cậy trông về cuộc sống đời đời không? Tôi có tìm cách làm cho đời sống thiêng liêng của tôi được sống động bằng việc cầu nguyện, đọc và suy niệm lời của Thiên Chúa, bằng việc tham dự vào các bí tích, không? Tôi có thực hành việc hãm mình không? Tôi có sẵn sàng và nhất quyết dứt khoát với các tính xấu, làm cho lệ thuộc các tham muốn dục vọng và các hướng chiều về điều xấu không? Tôi có phản ứng vì các lý do ghen tị, tôi có làm chủ thói mê ăn uống của tôi không? Tôi có tự phụ và kiêu ngạo không; tôi có huênh hoang để nói quá về mình đến nỗi đi tới việc khinh thường người khác và coi mình hơn họ, không? Tôi có áp đặt nơi người khác ý muốn của tôi, làm chìm đi tự do của họ và coi thường các quyền lợi của họ, không?

2. Tôi đã dùng thời giờ, sức lực, và các ơn huệ mà tôi đã lãnh nhận được từ Thiên Chúa như là "những nén bạc trong Phúc Âm" thế nào? Tôi có dùng tất cả các các phương tiện này để hằng ngày làm tăng trưởng thêm trong sự hoàn thiện của đời sống thiêng liêng của tôi và trong việc phục vụ người thân cận không? Tôi có sống thụ động hay lười biếng, không? Tôi đã dùng internet và các phương tiện truyền thông xã hội khác, thế nào?

3. Tôi có kiên nhẫn chấp nhận các đau khổ của đời sống trong tinh thần đức tin không? Tôi có tìm cách thực hành sự hãm mình, để làm hoàn tất điều còn thiếu trong cuộc khổ nạn của Đức Kitô không? Tôi có giữ luật ăn chay và kiêng thịt không?

4. Tôi đã giữ thân xác của tôi trong trắng và thanh sạch theo bậc sống của tôi thế nào, khi nghĩ rằng đó là đền thờ của Chúa Thánh Thần, được hướng tới cuộc sống lại và vinh quang sau này. Tôi có giữ gìn các giác quan của tôi và có tránh làm cho mình ra nhơ bẩn trong tinh thần và thân xác, với tư tưởng và các ước muốn xấu, bằng lời nói và các hành động bất xứng, không? Tôi có để mình đọc các bài sách báo, các bản văn, kịch trường, các cuộc giải trí ngược lại với sự lương thiện nhân bản và Kitô, không? Tôi có là gương xấu cho người khác với cách sống của tôi, không?

5. Tôi có hành động chống lại lương tâm của tôi không, vì sợ hãi hay vì giả hình?

6. Tôi có luôn tìm cách xử sự trong hết mọi tình huống theo sự tự do đích thực của con cái của Thiên Chúa và theo luật của Chúa Thánh Thần, hoặc tôi đã để tôi làm nô lệ các tham vọng của tôi?

7. Tôi có bỏ việc lành mà tôi có thể thực hiện không?

(Dịch theo nguyên bản tiếng Ý do Phòng đặc trách các Buổi cử hành do Đức Thánh Cha chủ sự, ngày 11-03-2015.)

Lm. Phanxicô Borgia Trần Văn Khả, ngày 12-03-2015

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.