SUY NIỆM CHÚA NHẬT 19 THƯỜNG NIÊN_C
[Kn 18,6-9; Dt 11,1-2.8-19; Lc 12,32-48]
CUỘC HÀNH HƯƠNG LỚN NHẤT: 'TRUNG TÍN & KHÔN NGOAN' – ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
SẴN SÀNG – + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên
NẾU CÒN MỘT NGÀY ĐỂ SỐNG – Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
TIN LÀ SẴN SÀNG SỐNG THEO LỜI CHÚA KÊU GỌI – Phêrô Phạm Văn Trung
COI CHỪNG! – Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD
SỐNG TỈNH THỨC TRỌNG HY VỌNG – Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc, SJ
TỈNH THỨC VÀ TRUNG THÀNH CHỜ CHÚA ĐẾN – Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
ĐÃ CÓ CHÚA - ĐỪNG SỢ! – Lm. JB. NGUYỄN MINH HÙNG
CUỘC HÀNH HƯƠNG LỚN NHẤT: 'TRUNG TÍN & KHÔN NGOAN'
+ ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Chúa nhật tuần trước, Phụng vụ Lời Chúa nói với chúng ta về sự mỏng giòn của kiếp con người. Chúa nhật hôm nay, Phụng vụ gợi mở cho chúng ta một lựa chọn: giữa cảnh đời chóng qua và đầy bất ổn, chúng ta cần luôn ở trong tư thế sẵn sàng để đón tiếp Chúa, vì Người đang đến với chúng ta.
Ki-tô hữu tin rằng, hành trình cuộc đời là hành trình đi về vĩnh cửu. Mặc dù gắn bó với cuộc sống hôm nay, người tin Chúa vẫn luôn hướng về trời, như thánh Phao-lô viết: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa” (Ep 3,1). Mặc dù hướng về trời, Ki-tô hữu vẫn có bổn phận dấn thân xây dựng cuộc sống hiện tại, đồng thời luôn tỉnh thức sẵn sàng đón Đức Ki-tô trở lại trong vinh quang.
Tác giả sách Khôn Ngoan ngược dòng thời gian để suy tư về sự kiện xuất hành của người Do Thái ra khỏi Ai-cập. Sự kiện vượt qua được xác định vào khoảng thế kỷ 14 trước Công nguyên. Phải đặt mình vào bối cảnh lịch sử mới có thể hiểu được bầu không khí sôi động, hồi hộp và hy vọng của người Do Thái trong đêm Vượt qua. Khởi đi từ ông Giu-se và tiếp đó là đại gia đình ông Gia-cóp, dân Do Thái đã ở đất Ai-cập trong thời gian 430 năm. Tại đất nước này, họ đã có một vinh quang huy hoàng, khi ông Giu-se làm quan đệ nhị. Ông có ảnh hưởng rất lớn đối với vua Pha-ra-ô và triều đình Ai-cập. Tuy vậy, lớp bụi thời gian đã che mờ hình ảnh của ông. Người Ai-cập chẳng coi người Do Thái ra gì. Họ hành hạ và bắt người Do Thái làm nô dịch, lấy đất làm gạch để kiến thiết những công trình, với những điều kiện rất khắc nghiệt. Người Ai-cập cũng muốn thôn tính và xóa bỏ dân tộc Do Thái, nên Pha-ra-ô đã ra lệnh giết hết các con trai gốc Híp-ri từ khi lọt lòng mẹ. Môi-sen là một người được cứu thoát cách thần kỳ. Ông được nhận làm con nuôi công chúa, và ông lớn lên trong triều đình. Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho ông, đồng thời dùng ông để giải phóng dân Do Thái khỏi ách nô lệ Ai-cập. Đêm vượt qua là một thời khắc lịch sử. Dân Do Thái tỉnh thức nai nịt gọn gàng, chuẩn bị có lệnh là xuất phát. Cuộc xuất hành khởi đầu vào ban đêm, và luôn có Thiên Chúa dẫn dắt. Người hiện diện giữa Dân Người bằng cột mây ban ngày và cột lửa ban đêm. Cuộc giải phóng dân Do Thái khỏi ách nô lệ mang tính biểu tượng cho Do Thái giáo cũng như Ki-tô giáo. Hằng năm, người Do Thái và các Giáo hội Ki-tô đều tưởng niệm cuộc vượt qua kỳ diệu này. Quả vậy, đức tin Ki-tô giáo khẳng định: ngày hôm nay Thiên Chúa vẫn dẫn dắt cuộc đời mỗi chúng ta, và những ai tỉnh thức sẵn sàng đón nhận lời giáo huấn của Chúa, sẽ tìm được niềm vui và lẽ sống cho đời mình.
“Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn”. Khi nghe những lời này, người Do Thái dễ dàng liên tưởng tới biến cố xuất hành và lời Chúa truyền lệnh qua ông Môi-sê. Đức Giê-su muốn nói về một cuộc giải phóng khác. Người chính là ông Môi-sen mới, đến trần gian để giải phóng con người khỏi tội lỗi và quyền lực của ma quỷ. Cuộc đời Ki-tô hữu là một cuộc “canh thức” không ngừng. Phần thưởng mà Thiên Chúa là ông Chủ tối cao sẽ ban cho những đầy tớ trung tín rất lớn lao. Chúa Giê-su đã diễn tả phần thưởng ấy bằng hình ảnh ông chủ săn sóc phục vụ đầy tớ của mình. Vâng, “Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa, kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương” (Thánh vịnh đáp ca).
Tỉnh thức là gì? Tác giả thư gửi tín hữu Híp-ri giải thích: tỉnh thức là có đức tin vững vàng và lòng phó thác cậy trông nơi Thiên Chúa và thực hành tình huynh đệ đối với tha nhân. Bài đọc II hôm nay dẫn chứng đức tin kiên cường của ông A-bra-ham, vị Tổ phụ đáng kính của dân tộc Do Thái. Khi lên đường đến nơi Chúa sẽ chỉ, Áp-ra-ham không đòi hỏi một điều kiện nào. Ông cũng không băn khoăn thắc mắc là cuộc đời ông tương lai sẽ ra sao. Ông hoàn toàn tín thác vào tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa, và ông tin những gì Chúa hứa sẽ thành hiện thực. Nhờ đức tin và qua việc lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy, Ki-tô hữu được thuộc về dân Ít-ra-en mới và là dòng dõi Áp-ra-ham trong đức tin. Giữa bối cảnh xã hội đầy nghi ngờ và ảnh hưởng bởi trào lưu tục hóa, Chúa mời gọi chúng ta hãy rà soát lại cách sống đức tin của mình, xác định đâu là đường hướng mình đang đi và đâu là niềm hy vọng của tương lai cuộc đời.
Lời mời gọi tỉnh thức sẵn sàng được Đức Giê-su nói nhiều lần trong Tin Mừng. Sở dĩ chúng ta phải tỉnh thức và sẵn sàng, vì cuộc sống trần gian luôn có cám dỗ vây bủa tư bề, mà con người lại yếu đuối và dễ mê lầm. Trong vườn Cây Dầu, khi thấy ba môn đệ đang ngủ mê man, Chúa Giê-su đã nài nỉ: “Si-môn, anh ngủ à? Anh không thức nổi một giờ sao? Anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái nhưng thể xác lại yếu đuối”. Đôi lúc chúng ta cũng nặng trĩu những đam mê ràng buộc như vậy. Đó là những lực cản trên con đường bước theo Chúa. Tỉnh thức cầu nguyện và luôn sẵn sàng, đó là tâm thái của Ki-tô hữu, những người muốn theo Đức Ki-tô và được nên giống như Người. mục lục.
+ ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên
Chúa nhật 19 Thường niên năm C hôm nay, như một sự nối dài của Chúa nhật tuần trước, vì nếu kết thúc đoạn Tin Mừng tuần trước, Đức Giê-su nói: “Kẻ tích trữ của cải cho mình mà không làm giàu trước mặt Chúa” (Lc 12, 21). Vậy để trở nên giàu có trước mặt Thiên Chúa ta phải làm gì? Đức Giê-su mời gọi chúng ta: “Hãy sắm cho các con những túi không hư nát, và kho tàng không hao mòn trên Trời, là nơi trộm cướp không lai vãng và mối mọt không làm hư nát”. Tiên vàn, hãy tỉnh thức, trung tín và khôn ngoan. (x. Lc 12,32-48). Điều đó có nghĩa là: thay vì bám víu vào của cải trần gian vốn tạm thời và mong manh ấy, chúng ta được mời gọi đầu tư vào kho tàng vĩnh cửu trên Trời.
Trước hết, hãy tỉnh thức và sẵn sàng
Tin Mừng hôm nay là một lời nhắc đầy yêu thương và khẩn thiết: “Các con hãy thắt lưng, hãy cầm đèn cháy sáng trong tay, và hãy làm như người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ về gõ cửa, thì mở ngay cho chủ. Các con hãy sẵn sàng”. (x. Lc 12, 35-36).
Vậy tỉnh thức như thế nào, có phải rằng cứ thức suốt không ngủ sao?
Thưa: Tỉnh thức không phải thức suốt không ngủ, càng không phải là chờ đợi cách thụ động. Tỉnh thức không chỉ là trạng thái tinh thần, mà còn là cách sống. Chúa Giê-su dùng hình ảnh người đầy tớ đợi chủ đi ăn cưới về để nhấn mạnh đến sự sẵn sàng và trung tín từng phút giây của đầy tớ. Mà “đầy tớ trung tính và khôn ngoan” là đầy tớ “khi chủ về còn thấy làm việc”, nghĩa là đang hăng say làm nhiệm vụ ông chủ đã giao cho. Thật “phúc cho đầy tớ đó, khi chủ về, thấy nó đang làm như vậy” (x. Lc 12,42-43).
Thứ đến, chờ đợi trong niềm tin
Tin không chỉ là một ý niệm trừu tượng, nhưng là hành động sống động: dám đứng dậy, chuẩn bị, chờ đợi trong niềm tin dù chưa thấy gì. Tác giả sách Khôn Ngoan (18,6-9) thuật lại đêm Xuất Hành lịch sử: “Chính đêm ấy, cha ông chúng ta đã biết trước, để biết chắc mình đã tin tưởng vào lời thề nào mà được can đảm” (Kn 18,6).
Dân Ít-ra-en đã sống trong cảnh nô lệ Ai Cập bao năm. Nhưng đêm ấy là đêm Thiên Chúa ra tay cứu độ, họ chuẩn bị như thể chiến thắng đã đến. Họ ăn lễ Vượt Qua với tư thế thắt lưng, tay cầm gậy, đứng thẳng đợi chờ, vì họ tin Thiên Chúa sẽ giữ lời hứa.
Tác giả thư Do Thái khẳng định: “Đức tin là cốt yếu những thực tại người ta mong đợi, là bằng chứng điều bí ẩn” (Dt 11,1). Tác giả gợi lên đức tin mẫu mực của tổ phụ Áp-ra-ham: Được Chúa gọi, ông ra đi mà không biết mình sẽ đi đến đâu; được hứa ban một dân tộc ở tuổi ông thì già và bà nhà ông đã lão, ông vẫn tin và hy vọng. Đến khi có con lớn, Thiên Chúa thử thách ông, bảo ông hiến tế con mình, ông vẫn sẵn sàng vì tin vào Chúa Chúa là Đấng trung tín với lời hứa. Thánh Au-gút-ti-nô giải thích: “Đức tin là đôi mắt của linh hồn. Ai có đức tin sẽ thấy được con đường Thiên Chúa mở ra, dù bị che phủ bởi bóng tối của thử thách”.
Nếu còn một ngày để sống
Sống đức tin là sống với niềm hy vọng kiên vững, tỉnh thức từng ngày trong yêu thương, sống có trách nhiệm và sống trong nguyện cầu. Nếu còn một ngày để sống, thì hãy sống ngày hôm nay như thể là ngày cuối cùng. Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng đã nói: “Giây phút hiện tại là kho báu. Mỗi khoảnh khắc tôi sống với Chúa đều có thể biến thành vĩnh cửu” (Trích Truyện Một Tâm Hồn).
Vậy hôm nay, chúng ta hãy thắp đèn đức tin, thắt lưng, đứng thằng, ngẩng đầu lên, tay cầm đèn cháy sáng như người đợi chủ đi ăn cưới về và mở lòng đón Chúa Giê-su, Đấng sẽ trở lại trong vinh quang, nhưng cũng đến với ta mỗi ngày qua Lời Chúa và Thánh Thể.
Lạy Chúa, xin cho con sống từng phút giây như thể Chúa đang đến. Và khi Chúa đến, Chúa thấy con đang tỉnh thức trong tin yêu và sẵn sàng đón Chúa. Amen. mục lục.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
TIN LÀ SẴN SÀNG SỐNG THEO LỜI CHÚA KÊU GỌI
Đức tin không chỉ là lời tuyên xưng, mà là hành trình sống tỉnh thức và trung tín, trong niềm hy vọng được hứa và kho tàng đích thực nơi quê trời, vì: “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Hípri 11:1)
1. Đêm của niềm tin
Đêm xuất hành của dân Israel là đêm kỳ lạ: một bên là cái chết của các con đầu lòng của người Ai Cập, một bên là máu chiên bôi trên cửa nhà dân Chúa, dấu hiệu cứu thoát. Nhưng trên tất cả, đó là đức tin. Đó không chỉ là một đêm trong lịch sử, mà là một đêm của niềm tin: “Đêm ấy đã được báo trước cho cha ông chúng con, để khi biết chắc lời hứa mình tin là lời hứa nào các ngài thêm can đảm” (Kn 18:6).
Chính là đức tin: tin vào Lời hứa của Đấng đã từng thề với Abraham, với Isaác, với Giacóp; tin rằng “đêm cứu thoát người chính trực và tiêu diệt kẻ địch thù” (Kn 18:7). Đức tin ấy không phải là mù quáng. Đó là “bằng chứng cho những điều ta không thấy”, là ánh sáng dẫn lối qua bóng tối dày đặc. Dân Chúa ra đi trong đêm, không vũ khí, không ngựa xe, chỉ có đức tin và lòng phó thác.
“Đức tin không ẩn mình trong bóng tối và u ám; nó là ánh sáng soi rọi bóng tối của chúng ta…Đức tin chính là ánh sáng, bởi vì một khi ngọn lửa đức tin lụi tàn, mọi ánh sáng khác cũng bắt đầu lu mờ. Ánh sáng đức tin là độc nhất vô nhị, bởi nó có khả năng soi sáng mọi khía cạnh của sự tồn tại con người. Một ánh sáng không đến từ chính chúng ta nhưng đến từ Thiên Chúa hằng sống, Đấng kêu gọi chúng ta và mặc khải tình yêu của Ngài, một tình yêu đi trước chúng ta và là nơi chúng ta có thể nương tựa để được an toàn và xây dựng cuộc sống” (Thông điệp Lumen Fidei của ĐTC Phanxicô, số 4, 2013).
Tác giả thư Do Thái đã khắc họa hành trình đức tin của Abraham như khởi đầu cho mọi người: “Nhờ đức tin, ông Abraham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu” (Hípri 11:8). Đức tin là thế: không thấy rõ nhưng vẫn bước đi, không chắc chắn nhưng vẫn tin tưởng. Abraham sống trong lều, như một lữ hành, vì “Ông trông đợi một thành có nền móng do chính Thiên Chúa vẽ mẫu và xây dựng” (Hípri 11:10).
Abraham không hiểu tại sao Thiên Chúa lại yêu cầu điều ấy. Nhưng ông không dừng lại ở những gì mình hiểu. Ông không hiểu hết ý Chúa, nhưng vẫn bước đi. Đức tin không loại bỏ lý trí, nhưng vượt qua giới hạn của lý trí để đặt trọn niềm tin vào Đấng hằng sống.
Không có đức tin nào không trải qua thử thách. Abraham không chỉ tin lúc ra đi, mà còn tin khi phải hiến tế Isaac: “Nhờ đức tin, khi bị thử thách, Abraham đã hiến tế Isaac; dù đã nhận được lời hứa, ông vẫn hiến tế người con một” (Hípri 11:17) vì: “Ông nghĩ rằng Thiên Chúa có quyền năng cho người chết trỗi dậy” (Hípri 11:19).
Đức Phanxicô chia sẻ: “Đức tin trở thành lịch sử trong cuộc đời của Abraham. Nghĩa là, bằng cuộc sống và gương mẫu của ông, Abraham dạy cho chúng ta cuộc hành trình này, con đường mà qua đó đức tin làm nên lịch sử. Thiên Chúa của Abraham trở thành “Thiên Chúa của tôi”, Thiên Chúa của lịch sử cá nhân của tôi, Đấng hướng dẫn bước chân tôi, Đấng không bỏ rơi tôi; Thiên Chúa của những ngày đời của tôi, người bạn đồng hành trong những cuộc phiêu lưu của tôi; Thiên Chúa Quan phòng” (Bài giáo lý về cầu nguyện, 3 tháng 6 năm 2020) [1]
Chúng ta, trong đời sống, cũng có những “Isaac”, những điều quý giá Thiên Chúa mời gọi ta buông bỏ: một ước mơ, một tình cảm, một sự an toàn... Không phải để đánh mất, mà để tìm lại trong vinh quang phục sinh khải hoàn.
2. Đức tin đã chiến thắng thế gian
Thư Do Thái cũng không quên nhắc đến bà Sara: “Nhờ đức tin, cả bà Sara vốn hiếm muộn, cũng đã có thể thụ thai và sinh con nối dòng vào lúc tuổi đã cao, vì bà tin rằng Đấng đã hứa là Đấng trung tín” (Hípri11:11). Bà từng cười nhạo ý nghĩ sẽ có con lúc đã già: “Mình đã cằn cỗi rồi, còn hưởng được vui thú nữa sao? Ông nhà mình lại là một ông lão!” (Stk 18:12), nay lại là biểu tượng cho niềm tin phục sinh: “Một người kể như chết rồi mà đã sinh ra một dòng dõi nhiều như sao trời cát biển, không tài nào đếm được” (Hípri 11:12). Qua Sara, ta thấy nơi điều tưởng như không thể, Thiên Chúa vẫn hành động. Đức tin làm cho kẻ “đã hết hy vọng” trở nên mẹ của muôn dân.
Chính nơi những gì không thể, Thiên Chúa thực hiện điều phi thường. Và nơi những người tưởng như đã “hết thời”, Chúa vẫn khơi dậy một tương lai. Bà Sara là hình mẫu đức tin của kẻ tưởng như đã hết hy vọng.
Đức Phanxicô từng nói: “Ai ở lại trong Thiên Chúa, ai được Thiên Chúa sinh ra, ai ở lại trong tình yêu, thì chiến thắng thế gian, và chiến thắng này là đức tin của chúng ta. Đối với chúng ta, đó là đức tin. Đối với Thiên Chúa, chính Chúa Thánh Thần làm cho chiến thắng này trở nên có thể nhờ đức tin. Sức mạnh của đức tin đã chiến thắng thế gian! Đức tin của chúng ta có thể làm được mọi sự!” (Đài phát thanh Vatican, 10/1/2014) [2]
3. Đức tin là hành trình
Hành trình đức tin không luôn mang đến thành công chóng vánh. Nhưng những người tin, dù không “nhận lãnh” điều hứa, vẫn vui mừng vì họ đã được thấy từ xa: “Mặc dù chưa được hưởng các điều Thiên Chúa hứa; nhưng từ xa các ngài đã thấy và đón chào các điều ấy” (Hípri 11:13).
Họ nhìn đời này như “lữ khách”, không bám víu vào quê hương trần thế, vì họ khao khát “Một quê hương tốt đẹp hơn, đó là quê hương trên trời”, và chính điều ấy làm đẹp lòng Thiên Chúa: “Vì thế, Thiên Chúa đã không hổ thẹn để cho các ngài gọi mình là Thiên Chúa của các ngài” (Hípri 11:16).
“Đức tin được nối kết với việc nghe. Abraham không nhìn thấy Thiên Chúa, nhưng nghe thấy tiếng Ngài…Lời nói với Abraham chứa đựng cả kêu gọi lẫn hứa hẹn. Trước nhất, đó là lời kêu gọi lìa bỏ quê hương, lời mời gọi đi tới một cuộc sống mới, khởi đầu cho một xuất hành sẽ hướng ông tới một tương lai không dự đoán được… Đức tin “thấy” bao lâu nó tiến bước, bao lâu nó quyết định bước vào các chân trời do lời Thiên Chúa mở ra” (Thông điệp Lumen Fidei của ĐTC. Phanxicô, số 8, 9)
Darwin Ramos sinh năm 1994 tại một khu ổ chuột ở Pasay, Philippines. Là con thứ hai trong gia đình nghèo 9 người con, và có người cha nghiện rượu, cậu vẫn kiên nhẫn và yêu thương các em. Năm 7 tuổi, Darwin mắc bệnh loạn dưỡng cơ - Duchenne muscular dystrophy - khiến cơ bắp dần teo liệt, không đi học được. Dù không thể đứng vững, cha cậu bắt cậu ra ga xin tiền và cùng em gái nhặt rác kiếm sống. Tuy xấu hổ, nhưng vì muốn giúp gia đình nên Darwin không trách cha.
Năm 2006, Darwin được Quỹ “Tulay ng Kabataan” đưa về trung tâm trẻ khuyết tật. Tại đây, cậu được rửa tội, rước lễ và bắt đầu hành trình đức tin sâu sắc. Cậu gọi bệnh tật là “sứ mạng”, kết hiệp với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Một ngày nọ, cậu nói với vị linh mục của Quỹ: “Cha biết không, con nghĩ Chúa Giêsu muốn con kiên trì đến cùng, giống như Chúa đã làm.”
Darwin đã vun đắp một mối tương quan cá nhân sâu sắc với Chúa Kitô; không một ngày nào trôi qua mà cậu không dành thời gian để phó thác bản thân cho Chúa. Một người chăm sóc từ quỹ đã làm chứng: “Dù Darwin bị sốt, cậu đã nài nỉ được giúp ra khỏi giường để cùng mọi người ở trung tâm cầu nguyện buổi tối. Đối với cậu, Chúa Giêsu là trên hết mọi thứ.”
Cuối tháng 9 năm 2012, Darwin nhập viện vì suy hô hấp. Trên giường bệnh, cậu xin lỗi linh mục vì đã “làm phiền” và để lại lời cuối trong sổ tay: “Con cảm ơn rất nhiều. Con rất hạnh phúc.” Darwin qua đời sáng Chúa nhật, ngày 23.9.2012, ở tuổi 17. Cuộc đời ngắn ngủi của cậu là chứng tá sống động cho đức tin đơn sơ, trung tín và đầy phó thác giữa đau khổ. [3]
Thư Do Thái cho thấy đức tin là hành trình dấn thân dù chưa thấy kết quả. Tin Mừng Luca mời gọi đi xa hơn: sống đức tin trong tỉnh thức và trung tín. Chúa Giêsu nói: “Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Ngài cho anh em” (Lc 12:32). Nước Trời không chỉ là phần thưởng, mà là trách nhiệm được trao, là kho tàng cần canh giữ trong tỉnh thức: “Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn” (Lc 12:35).
Đức tin không dừng lại ở niềm tin, mà là đời sống sẵn sàng đón Chúa trở về bất ngờ. Chúa Giêsu cảnh báo: “Nếu người đầy tớ ấy nghĩ bụng: Chủ ta còn lâu mới về, và bắt đầu đánh đập tôi trai tớ gái và chè chén say sưa, chủ của tên đầy tớ ấy sẽ đến vào ngày hắn không ngờ, vào giờ hắn không biết, và ông sẽ loại hắn ra, bắt phải chung số phận với những tên thất tín” (Lc 12:45). Nguy hiểm không phải là lỗi lầm, mà là sống như thể Thiên Chúa không bao giờ trở lại. Đức tin đích thực thúc đẩy hoán cải hôm nay, không trì hoãn.
Đức Phanxicô từng đặt cho chúng ta những câu hỏi: “Tôi có bị ràng buộc với những gì mình có không, với những ý tưởng của riêng mình, khép kín vào chính mình không? Hay tôi mở lòng ra với Thiên Chúa của những điều bất ngờ? Tôi là một người đứng yên hay là một người đang bước đi trong cuộc hành trình? Tôi có tin vào Chúa Giêsu Kitô và những gì Ngài đã làm không?, nghĩa là tin rằng Ngài đã chết, đã sống lại không?” (Bài suy niệm buổi sáng tại nhà nguyện Thánh Martha, thứ Hai, 13/10/2014).
Sống đức tin không phải nắm giữ một mớ kiến thức thuộc lòng, mà là ra đi khỏi lối nghĩ, lối hành xử, kế hoạch, toan tính của riêng mình, nhưng tỉnh thức và phục vụ. Như Abraham sẵn sàng hiến tế con mình, chúng ta được mời gọi dâng chính mình, trong niềm tin vào Thiên Chúa, như của lễ mỗi ngày. Lạy Chúa, xin cho con tin như Abraham, tỉnh thức như người đầy tớ, và sống mỗi giây phút như thời khắc Chúa trở lại. Amen. mục lục.
Phêrô Phạm Văn Trung
[1] https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2020-06/dtc-phanxico-tiep-kien-chung-cau-nguyen-apraham.html
[2] https://www.indcatholicnews.com/news/23931?utm_source=chatgpt.com
[3] https://en.wikipedia.org/wiki/Darwin_Ramos?utm_source=chatgpt.com
Biển cảnh báo trong đời thường
Bạn đã bao giờ để ý đến những bảng cảnh cáo (warning signs) và ý nghĩa của chúng trong cuộc sống thường nhật chưa?
“Coi chừng chó dữ”, “Coi chừng hỏa hoạn”, “Coi chừng có nai băng qua đường”, “Coi chừng độc dược”, “Coi chừng đường cong trơn trượt”, “Coi chừng học sinh băng qua đường”, “Coi chừng đá lở phía trước”, “Coi chừng hút thuốc sẽ gây ung thư”, “Coi chừng uống rượu bia và các loại đồ uống có cồn sẽ gây bệnh ung thư và khuyết tật cho thai nhi”, “Coi chừng không được sử dụng điện thoại di động (cell phone)”…
Còn hàng ngàn bảng khuyến cáo và cảnh cáo khác ở khắp nơi: trong các hang cùng ngõ hẻm, tại đô thị cũng như nông thôn, ở sân bay, trạm xe lửa, xe điện, trên máy bay, dưới tàu, trong bệnh viện, trường học, công xưởng, nhà thờ, và trên những sản phẩm tiêu dùng.
Mục đích của cảnh báo
Ở đâu cũng có những bảng cảnh cáo. Tại sao chính quyền lại cho treo nhiều bảng như vậy?
Mục đích là để báo trước mối nguy hiểm, giúp con người cẩn thận hơn, suy nghĩ chín chắn hơn, tránh hậu quả đáng tiếc. Thật vậy, nhờ những cảnh cáo này, nhiều người đã tránh được tai nạn, rủi ro, phiền toái với pháp luật và những bất hạnh.
Nhưng cũng không ít người chẳng quan tâm. Đặc biệt là những cảnh báo về tác hại của thuốc lá, rượu bia. Người hút vẫn hút, người uống vẫn uống, lái xe khi say vẫn lái. Có người viện lý do chữ cảnh cáo in quá nhỏ; người khác cho rằng lời cảnh cáo không đúng, chỉ là bịa đặt để chống lại các hãng sản xuất; kẻ khác thì biện minh: “Đời là bể khổ, thuốc lá, bia rượu giúp vui; sống chết là do Chúa quan phòng, lo gì!” Vì những lý luận sai lạc ấy, họ bỏ qua, không đọc và không quan tâm.
Liên hệ đời sống thiêng liêng
Điều tương tự xảy ra trong đời sống tâm linh. Nhiều người không để ý đến lời cảnh cáo của Thiên Chúa:
“Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu” (Lc 12,15). Thế nhưng, thiên hạ vẫn lao vào làm ăn không ngơi nghỉ, thậm chí làm cả ngày Chúa Nhật, đến khi kiệt sức mới dừng.
Lời Chúa dạy: “Hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa là mở ngay” (Lc 12,35-36). Nhưng có được bao nhiêu người chuẩn bị? Có người vài năm mới xưng tội một lần; lễ Chúa Nhật khi có khi không; cầu nguyện thì lười biếng; việc bác ái, chia sẻ thì ngại ngùng.
Chúa cảnh cáo: “Hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Lc 12,40). Vậy mà nhiều người vẫn đầu tư tất cả vào đời này, sống như thể không bao giờ chết. Lời Chúa dạy rõ ràng: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán; anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án” (Lc 6,36-37).
Lời kêu gọi sẵn sàng
Bạn có phớt lờ lời cảnh cáo của Thiên Chúa không? Nếu không, hãy tạ ơn Chúa; nếu có, hãy suy nghĩ lại. Lời cảnh cáo của Ngài giúp tránh hiểm nguy, bất hạnh, và nhất là được hưởng sự sống đời đời.
Nếu đêm nay bạn qua đời, hay ngày mai gặp tai nạn bất ngờ, bạn đã sẵn sàng chưa? Nếu chết trong tình trạng tội trọng (peccatum mortale), giáo lý Công giáo dạy rằng sẽ lãnh án phạt đời đời trong hỏa ngục – không phải chuyện đùa.
Hãy chuẩn bị sẵn sàng bằng:
-
Cầu nguyện xin Chúa ban ơn khôn ngoan để nhận ra tính tạm bợ của thế gian; quê hương thật ở trên trời.
-
Quản lý ân huệ Chúa ban – dùng của cải, tài năng để tạo kho tàng trên trời qua việc bố thí, giúp đỡ người khó khăn.
-
Siêng năng tham dự Thánh Lễ và lãnh nhận Bí tích Hòa giải thường xuyên, nhất là sau khi phạm tội trọng.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau để đủ khôn ngoan mà nhận ra những “bảng cảnh báo” của Thiên Chúa trong Kinh Thánh, trong đời sống, và trong mọi biến cố hằng ngày. mục lục.
Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD
Bạn sẽ bật cười nếu chúng tôi nói ta nên chờ ngày Chúa Giêsu trở lại. Hãy cười vì bạn cho đó là chuyện xa vời không tưởng. Suy nghĩ có người không tin vào ngày mình sẽ chết! Nhất là tuổi trẻ, cái chết luôn là nỗi kinh hoàng mà không một ai suy nghĩ đến. Mỗi ngày chúng ta sống như thể thời gian là vô hạn, sức khỏe là bất biến, và tương lai sẽ rất trong lòng bàn tay. Nhưng liệu đó có phải là sự thật?
Vậy mà Tin mừng Chúa hôm nay của tuần 19 thường niên (Lc 12,33–40), chính Chúa Giêsu, một người trẻ, nhắc đến ngày định mệnh này. Ngài nói không phải với giọng điệu đe dọa hay cảnh báo, mà là một lời nhắn nhắn đầy yêu thương, vừa thiết tha vừa khẩn thiết: “Xin vui vẻ eo cho thon, đèn cho sẵn. Hãy như những người mong đợi chủ nhà đi ăn cưới về” (Lc 12,35-36).
Chúa Giêsu đến trần gian để cứu độ con người, nghĩa là đưa con người về Thiên đàng. Nhưng Ngài không làm điều đó cho riêng mình. Trong quá trình này, Ngài cần chúng ta cộng tác, cần chúng ta chuẩn bị và chờ đợi, tiêu đề như một đầy đủ để chờ đợi chủ sở hữu của chúng ta. Và điều đáng suy nghĩ là: chủ luôn về bất thình mạnh. If đầy no canh thức, chủ sẽ nổi giận. Ngược lại, nếu họ tìm thấy tỉnh thức, chủ nhân sẽ mời họ vào bàn ăn, lễ phục từng người, đây là hình ảnh nghịch lý nhưng cảm động sâu xa.
Một ví dụ khác đó là kẻ trộm và chủ nhà. Chủ nhà không đề phòng, cướp sẽ đột nhập và lấy những món đồ quý giá. Tấm vách đá tưởng tượng chắc chắn, nhưng hóa ra lại mong manh dù không có tỉnh thức. Cả hai hình ảnh, người đầy tớ và chủ nhà, đều liên tưởng đến thân phận con người: không biết ngày giờ, không kiểm soát được tương lai, nhưng lại luôn được mời sống với một tâm thế sẵn sàng và hy vọng.
Bạn có tin hay không: cuộc sống con người thường mong manh, sống nay chết mai. Kinh nghiệm này được Thánh vịnh viết:
“Tính tuổi thọ, ngoài bảy hồi sống, Mạnh giỏi chăng là thứ mười tám, Mà phần lớn chỉ là gian lao khó khó, Cuộc đời sống thọ, chúng con đã khuất rồi.” (Tv 90,9-10)
Đối diện với thực tế trên, trẻ thường chọn cách tránh hoặc làm một cách tự nhiên. Nhưng Tin Mừng không cho phép chúng ta trốn chạy sự thật mà mời chúng ta đối diện trong hy vọng. Object như thế nào?
Thứ nhất, tỉnh thức không phải để chạy sợ hãi mà phải sống gắn bó với Thiên Chúa. Tin Mừng hôm nay không hù chúng ta để mỗi người chạy đi sợ hãi trước cái chết mà không biết làm gì hơn. Chúa mời chúng ta chuẩn bị cho ngày này, nghĩa là sống phó thác, tin tưởng và yêu mến Thiên Chúa. Chỉ có Ngài mới được chúng tôi tìm kiếm. Tôi có kinh nghiệm này: Mỗi lần nghĩ đến cái chết, tôi thường cầu nguyện. Tưởng tượng cảnh mình phải lâm nguy bệnh, quằn quại đau đớn và thần chết luôn chờ đợi, tôi chuyển suy nghĩ sang Thiên Chúa. Tôi đọc kinh, tâm sự với Chúa. Lạ thay tôi được bình an hơn và hạnh phúc trở lại. Có lẽ kinh nghiệm này cho tôi niềm tin xác tín rằng: Nếu yêu mến Thiên Chúa đủ, cái chết không quá đáng sợ như nhiều người nghĩ. Như thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Đồng Jesus đã viết: “ Tôi không chết, tôi bước vào sự sống.” Đó không phải là một câu thơ hay để an ủi, mà là một lành lý sống.
Trong Chúa, cái chết không phải là dấu chấm hết mà là cánh cửa mở vào cõi trường sinh. Chúng ta vẫn hy vọng và tin như thế.
Thứ hai, tỉnh thức là cuộc sống tốt đẹp mỗi ngày, sống tròn đầy từng khoảnh khắc khắc. Chuẩn mực Thái Lan không phải là chạy trốn cuộc sống mà là cuộc sống hoàn hảo từng ngày. Người ta thường xuyên nói rằng có gian manh hay sợ chết. Ngược lại, người nhân nghĩa, sống hài hòa với tha nhân, luôn có tinh thần lạc quan. Họ sống tròn đầy và cuộc sống cho họ niềm vui. Đây là nghệ thuật sống mà chúng ta cần được hướng dẫn. Bạn trẻ ngày nay hay nói về “chill”, nghĩa là sống thư thái, nhẹ nhàng và thong thả. Nhưng “chill” đích thực không nằm ở những kỳ nghỉ hay lướt mạng xã hội, mà ở tâm thế sống thanh thản với lương tâm trong sáng.
Về mặt sinh lý, những cảm giác yêu thương sẽ kích thích cơ chế tiết ra các loại hormone hạnh phúc như oxytocin, dopamine và endorphin. Nguồn hormone tích cực này giúp họ thêm yêu đời và nhìn đời bằng tinh thần phấn khởi. Về mặt thiên nhiên, tình yêu giúp họ vươn lên được Thiên Chúa và tha nhân. Cả hai điều này trở thành nên quan trọng mà chúng ta gọi là đời sống quân bình, một đời sống biết đặt Thiên Chúa làm trung tâm, và để tình yêu cầu hồi mọi tương quan. Một người sống tỉnh thức là người biết yêu thương đúng lúc, biết nói lời xin lỗi khi cần, biết dừng lại để lắng nghe người khác, biết chia sẻ những gì mình có. Và chính những điều nhỏ bé ấy là hành trang quý giá cho ngày Chúa đến.
Thứ ba, tỉnh thức là sống thanh thoát, tự động thoát khỏi mọi ràng buộc. Tin Mừng hôm nay mời chúng ta không chỉ sống tốt mà còn sống thanh thoát. Thánh I-nhã viết trong sách Linh Thảo số 23: “Do đó, cần phải giữ cho mình được bình tâm đối với mọi thời gian tạo trong tất cả những gì trong sự việc tự làm của ta và không bị, đến nỗi đau ta không ước sức khỏe hơn bệnh, giàu sang hơn đau khổ, danh vọng hơn nhục nhã, sống lâu hơn chết yểu…, nhưng chỉ muốn và lựa chọn những gì dẫn đến chúng ta ta đến cứu của mình hơn cả.”
Ngôn ngữ ngày nay gọi hai chữ “bình tâm” là sống thanh thoát, sống mà không bị lệ thuộc. Có lẽ đây là một trong những thái độ chờ mong ngày Chúa đến tốt nhất. Người thanh thoát sống giữa thế gian nhưng không bám chặt vào trần gian. Họ hướng dẫn về quê trời nhưng không sống trên mây trên gió. Giữa một thế giới đầy cám dỗ vật chất, danh vọng, và thành công câu chuông, một người trẻ sống thanh thoát là người sống ngược dòng, là chứng nhân cho sự tự làm đích thực. Họ sống có lựa chọn, có lý tưởng, có đích đến. Và họ biết rằng: Thiên đường không dành cho những kẻ nhiều người, mà cho những ai biết trao ban.
Như vậy, lời mời gọi “Hãy sẵn sàng” của Chúa Giêsu không chỉ dành cho những người ở thời điểm đó mà hãy chọn chính chúng ta hôm nay. Đành rằng mỗi người đang xây dựng tương lai cho mình, nhưng thức tỉnh tỉnh không phải là trạng thái thụ động, đang chờ đợi. Đó là một cách sống chủ động, đau thân, biết mình đang sống để làm gì và sống cho ai.
Nếu bạn biết chắc rằng hôm nay là ngày cuối cùng của bạn trên trần thế, bạn sẽ sống khác đi chứ? By thế mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đồng ý với quan niệm sống của nhà thơ Kahlil Gibran rằng: “Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta được thêm ngày nữa để yêu thương.” Nếu Chúa đang gõ cửa đời bạn vào lúc bạn không ngờ, liệu bạn có tỉnh táo để mở cửa ngay? Chúa vẫn gõ, từng ngày, nhưng bạn gõ cửa trái tim của chúng ta với rất nhiều tình huống yêu thích. Chúng ta không biết giờ nào, ngày nào rời xa thế. Ta chỉ biết tỉnh chờ mong là điều vô cùng hệ trọng trong chương trình đức tin này.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con đừng quên trong thế gian này. Ước gì con hướng dẫn luôn về Chúa và về tha nhân với niềm hy vọng, với tình yêu và với niềm vui trong lòng. mục lục.
Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc, SJ
TỈNH THỨC VÀ TRUNG THÀNH CHỜ CHÚA ĐẾN
Ngày 24-08 năm 79 Công nguyên, núi lửa Vesuvius, vùng Campania nước Ý, bất ngờ phun trào dữ dội, và chỉ trong hai ngày, đã chôn vùi thành phố Pompeii dưới một lớp dung nham dày đặc, lấp đầy mọi khoảng trống. Nó bị hoàn toàn quên lãng cho đến thế kỷ 18. Khi bắt đầu khai quật, các nhà khảo cổ nhận thấy những gì thuộc khoáng vật hầu như còn nguyên nhưng những gì thuộc sinh vật (xác người và thú) đều tiêu tan và biến thành những cái khuôn rỗng. Người ta đổ thạch cao vào đó để khám phá hình dạng và tư thế của các nạn nhân. Đa phần quằn quại. Điều kỳ thú là có nguyên một toán lính Rô-ma đứng thẳng người như đang làm nhiệm vụ, tay vẫn còn cầm khiên và giáo.
Vào khoảng 2g20 sáng ngày 15-4-1912, chiếc Titanic – con tàu sang trọng hàng đầu thế giới tại thời điểm đó – đã va phải một tảng băng trôi gần đảo Newfoundland (Canada). Nó gãy đôi và chìm dần, gây ra cái chết cho gần 1.500 hành khách. Khi ấy, muốn giúp mọi người bình tĩnh hơn giữa cảnh hỗn loạn, dàn nhạc của con tàu đã chơi đàn suốt hơn hai giờ đồng hồ, và rốt cuộc họ cũng chìm xuống đáy đại dương. Và bản nhạc cuối cùng được tấu là giai điệu bài thánh ca “Nearer My God To Thee” (Chúa ơi cho con gần Ngài hơn nữa).
Thái độ bình thản đón đợi tử thần và ý thức chu toàn nhiệm vụ đến chết của hai nhóm trên chẳng phải là bài học cho các Ki-tô hữu mà bài Tin Mừng hôm nay đề cập sao?
Quả thế, bản văn phụng vụ đang đọc chủ yếu nói về sự tỉnh thức và đức trung thành của tín hữu. Tuy nhiên, nó lại mở đầu bằng câu kết luận giáo huấn về thái độ đối với của cải trần gian. Lý do là giáo huấn ấy đạt đến đỉnh cao nơi một lời khuyên cụ thể và triệt để ban cho môn đệ: bán tài sản của mình đi mà bố thí (một việc sẽ được cộng đoàn Ki-tô hữu đầu tiên đem ra thực hiện theo sách Công vụ 2,45; 4,34-37). Đem của cải cho kẻ nghèo, ấy là làm giàu trước mặt Thiên Chúa (x. Lc 12,21), tạo cho mình một kho tàng không thể hao hụt nơi Người; tóm lại là bảo đảm cho mình một sự bù trừ vĩnh cửu. Tuy nhiên, không phải điều này, nhưng chính việc Nước Trời đến rốt cuộc mới là động cơ khiến tín hữu xả thân, dâng của, hiến lòng.
Tiếp tục trò chuyện với riêng môn đệ, Đức Giê-su đề cập một chủ đề mới, tỉnh thức và trung thành. Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, nơi Người sắp hoàn tất cuộc xuất hành của mình, Người tự thấy phải chuẩn bị cho môn đệ đón nhận tình thế mà họ sẽ biết tới sau ngày Phục sinh: chờ đợi Chúa của họ vốn sẽ vắng mặt. Trình thuật Thăng thiên (Cv 1,9-11) đặc biệt muốn nói rằng thời gian của Giáo hội là thời gian vắng bóng Đức Ki-tô, Đấng mà người ta luôn cầu khẩn: “Lạy Chúa, xin hãy đến!” Suốt thời gian này, mọi tín hữu đều phải sẵn sàng (c. 35-40); nhưng những môn đệ được gọi vào công việc lớn lao là phụ trách cộng đoàn được đặc biệt kêu mời hãy trung tín (c. 41-48). Vì thế, Đức Giê-su sắp đưa ra nhiều dụ ngôn trình bày ngay một thái độ phải học đòi.
Tôi Tớ Tỉnh Thức, Chủ Nhà Thức Tỉnh
Đức Giê-su bắt đầu bằng việc mời gọi mọi môn đệ hãy ở trong tư thế, mặc y phục làm việc; sau cuộc Thăng thiên, đó là nhờ không ngớt chăm lo phận sự của mình mà họ sẽ chờ đợi lúc mở cửa ra cho Chúa của họ (c. 35). Khi ấy họ được so sánh (c. 36-38) với những đầy tớ mà ông chủ, đi dự tiệc cưới, có thể trở về bất cứ lúc nào trong đêm. Đức Giê-su hai lần tuyên bố phúc cho những đầy tớ mà chủ sẽ thấy đang túc trực: họ sẽ được đồng bàn với ông. Sự ám chỉ bàn tiệc cánh chung mà Thiên Chúa đã dự kiến cho dân mình (x. Is 25,6-8) sẽ được soi rõ tại Lc 13,28 và hơn nữa, tại Lc 22,30, nơi Đức Ki-tô loan báo rằng các môn đệ sẽ được đồng bàn ăn uống với Người trong Vương Quốc của Người. Hơn nữa, sự ân thưởng còn tỏ ra qua việc đảo lộn các vai trò: chính ông chủ mặc y phục tôi tớ để đối xử với họ. Có một lời của Đức Giê-su cũng sẽ soi sáng điều này: “Thầy ở giữa anh em như một người phục vụ” (22,27).
Để minh họa cùng chủ đề tỉnh thức, dụ ngôn thứ hai nhắc nhớ rằng một chủ nhà chẳng bao giờ biết minh bị ăn trộm. Không thể nào thức dậy đúng lúc! Bài học rút ra từ đó – cảnh giác không ngừng – lần này được minh nhiên áp dụng cho các thành viên của Giáo hội trong việc chờ đợi cuộc Quang lâm, việc Con Người đến lần sau hết. Sở dĩ ở đây Đức Giê-su tự cho mình danh hiệu ấy chứ không phải danh hiệu Chúa, ví dụ vậy, ấy là để nhấn mạnh vai trò của Người: Thẩm phán Hoàn vũ (x. 21,36) và đến tính cách hoàn toàn bất ngờ của việc Người trở lại (x. 17,23-26).
Người Quản Gia Trung Tín, Kẻ Coi Nhà Bất Trung
Một câu hỏi của Phê-rô đến tinh tế hóa việc áp dụng dụ ngôn: nó ngỏ cho ai? Cho mọi người – kể cả quần chúng – hay chỉ cho các môn đệ (c. 41)? Một cách ý nghĩa, Lu-ca ghi nhận chính Chúa, Chủ tể của Giáo hội, trả lời bằng một dụ ngôn thứ ba. Hoàn cảnh nó trình bày rõ ràng là hậu Phục sinh: các động từ đều ở thì tương lai, nhất là động từ tường thuật việc đặt làm quản gia. Các câu 42-44 nhắc lại một phần các câu 36-38: Đức Giê-su dàn dựng một đầy tớ mà ông chủ khi trở về, sẽ thấy đang làm việc của mình và Người tuyên bố y thật có phúc. Song có điểm mới mẻ: ta đang có chuyện với một đầy tớ-quản gia được giao nhiệm vụ cung cấp thức ăn cho những đầy tớ khác. Chu toàn nhiệm vụ này, đó là trung tín, đáng tin tưởng, và khôn ngoan – biết rằng cuộc sống vĩnh cửu tùy thuộc vào công việc thường nhật. Phần thưởng là nhân vật của chúng ta sẽ thấy mình được giao một nhiệm vụ lớn hơn: coi sóc tất cả tài sản của chủ.
Phác qua một trường hợp ngược lại, các câu 45-46 cung cấp một sự chính xác lớn hơn. Ý thức rằng ông chủ về trễ, tên đầy tớ-quản gia lợi dụng điều này để lạm dụng vị thế quyền lực của y. Đây là một ám chỉ rõ ràng đến kỳ hạn mà trong Giáo hội, kéo dài giữa cuộc Thăng thiên và cuộc Quang lâm của Chúa, việc Người đến vào lúc tận cùng thời gian (x. Cv 1,6-8; 2Pr 3,8tt). Không chu toàn phận sự mình chưa đủ – chỉ lo chè chén say sưa – y còn hành hạ tôi trai tớ gái mà y có trách nhiệm cấp dưỡng. Chủ đề hồi gia bất ngờ được nhắc lại, thì hình phạt đến liền: ông chủ sẽ loại hắn ra, bắt phải chung số phận với những tên thất tín, khỏi cộng đoàn các tín hữu. Câu 47 trình bày một trường hợp khác, trường hợp cố tình chểnh mảng: kiểu bất tuân phục như thế sẽ bị nghiêm trị. Còn kẻ mà thói vô ý chểnh mảng là do thiếu khả năng thì sẽ chịu một hình phạt nhẹ hơn (c. 48a).
Câu hỏi của Phê-rô thành thử đã khiến Đức Giê-su đề cập tới một điểm đặc biệt. Sau sự cảnh giác ở cc. 36-40 ngỏ với mọi tín hữu, Người đòi hỏi ở đây một thái độ trung thành từ phía một vài môn đệ, những kẻ thực thi một trách nhiệm mục vụ trên các anh em khác của cộng đoàn. Tuy nhiên ta chớ quên rằng Đức Ki-tô ở đây nói bằng dụ ngôn: mọi nét không thể kéo về hướng ẩn dụ mà không phản nghĩa -ví dụ đánh đòn (cc. 47-48a). Giáo huấn vẫn không kém rõ rệt: Đức Ki-tô chờ đợi nhiều từ các phụ trách cộng đoàn, như chỉ rõ qua câu tục ngữ bình dân mà Người dựa vào (c. 48b). Do chức năng mà Thiên Chúa ủy cho họ giữa dân của Người, họ phải hơn các tín hữu khác, không ngớt sẵn sàng trả lời bằng thái độ của mình trước vị Chúa tể sẽ bất ngờ xuất hiện./ mục lục.
Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
Tin Mừng hôm nay mở đầu bằng một lời thật ấm áp Chúa Giêsu cất lên dường như để nhẹ nhàng trấn an mà vẫn đầy sức mạnh: “Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Cha các con đã vui lòng ban Nước Trời cho các con”.
Chúa Giêsu biết các môn đệ sẽ đối diện với nhiều thử thách, mất mát, thậm chí bách hại. Giữa bao bất an, Chúa trấn an họ: đừng để sợ hãi làm tắt lửa hy vọng, vì Nước Trời đã được Cha chuẩn bị và trao ban.
Cũng vậy, có lẽ trong mỗi chúng ta, không ít lần nỗi sợ len lỏi vào hồn: sợ tương lai bấp bênh, sợ mất mát, sợ bệnh tật, sợ bị phản bội, sợ cô đơn, sợ cả những thất bại tinh thần, sợ cả những điều chưa xảy đến. Vì thế lời này của Chúa cũng dành cho chúng ta.
1. Đừng sợ – vì Thiên Chúa là Cha.
Chúa Giêsu không nói "đừng sợ" như khẩu hiệu rỗng. Chúa nói "đừng sợ" vì Chúa biết rõ lý do để nhờ đó mà ta an tâm: Thiên Chúa là Cha nhân hậu.
Chúa không chỉ quan tâm mà còn "vui lòng ban Nước Trời" cho ta. Đoàn chiên nhỏ bé và mong manh, nếu chỉ dựa vào sức riêng, chắc chắn sẽ bị sói dữ tấn công. Nhưng khi có Mục Tử nhân lành ở cùng, chiên sẽ an toàn.
Nỗi sợ trong đời thường thường đến từ cảm giác mình đơn độc. Chúa Giêsu muốn nhắc rằng, chúng ta không bao giờ cô đơn. Dù ở giữa cơn thử thách, Chúa vẫn ở bên, Chúa dắt ta đi qua thung lũng tối.
Nhưng để thật sự thoát khỏi sợ hãi, mà nỗi sợ lớn nhất là bị xa cách Chúa đời đời, Chúa Giêsu mời gọi: "Hãy bán tài sản của mình mà bố thí… hãy sắm cho mình những túi tiền không hề rách, kho tàng không hề vơi ở trên trời".
Kho tàng đích thực không phải là tiền bạc hay quyền lực, vì tất cả sẽ qua đi. Kho tàng thật là tình yêu, là việc lành, là lòng quảng đại, là những giọt mồ hôi đổ xuống vì người khác.
Người nông dân, người công nhân, người mẹ, người cha… khi làm việc với trái tim yêu thương, đều đang gửi "tiết kiệm" về trời. Chúa không nhìn số lượng, mà nhìn tấm lòng.
Thiên Chúa là Cha. Đừng sợ tin tưởng vào Ngài. Hãy thật lòng tín thác và tín thác trọn vẹn. Đừng lo sợ thiếu thốn đến nỗi khư khư giữ của thế gian. Hãy mở bàn tay. Hãy chấp nhận cho đi cả trái tim mình.
Một khi Thiên Chúa mời gọi đừng sợ, thì khi mở lòng với anh chị em để sống bác ái, để biết cho đi, để sẵn sàng bố thí, để luôn thực hiện tình yêu tín thác đời mình trọn vẹn cho Chúa, thì Thiên Chúa là Cha sẽ dễ dàng dẫn bước chúng ta về với Ngài, sẽ đưa chúng ta đi qua đời này mà vào cõi vinh phúc, nơi mà Chúa Cha luôn“"vui lòng ban cho".
2. Đừng sợ – nhưng hãy tỉnh thức.
Lời "đừng sợ" của Chúa Giêsu không là lời ru ngủ, nhưng là lời thúc giục hãy tỉnh thức.
Đầy tớ tỉnh thức sẽ không bất ngờ khi Chúa đến, dù là nửa đêm hay tảng sáng. Nhưng tỉnh thức không là chờ đợi thụ động mà tích cực sống mỗi ngày một cách trọn vẹn. Điều này lại gợi lại cho chúng ta lời mà Chúa đã nói bên trên: "Các con hãy bán những của các con có mà bố thí". Hãy cố gắng hết sức lo làm việc thiện, luôn quan tâm đến anh chị em, tránh điều ác, luôn cần mẫn giúp nhau vượt lên trên mọi hoàn cảnh khó khăn hay bi đát và cố sống yêu thương từng ngày.
Luôn giữ được tinh thần tỉnh thức, chúng ta sẽ còn nghe Chúa hứa phần thưởng lạ lùng: khi chủ về, thấy đầy tớ tỉnh thức, chính chủ sẽ "thắt lưng, đưa họ vào bàn, và phục vụ họ". Thật nghịch lý: Chúa là Chủ, ta là đầy tớ, nhưng trong Nước Trời, Chúa lại cúi xuống phục vụ ta.
Đó là phần thưởng dành cho ai trung tín đến cùng. Phần thưởng lạ lùng. Quá xứng đáng với một kẻ chỉ là đầy tớ. Vượt trên mọi ước mong của chính đầy tớ.
Vâng lời Chúa, chúng ta không bám víu vào của cải của trần thế. Nhờ đó, tâm hồn nhẹ nhàng và tự do hướng về Nước Trời. Khi trái tim không bị xiềng xích bởi vật chất, sẽ cho ta sự mạnh mẽ trước những biến động của đời sống.
Sức mạnh giúp ta giật phần thưởng lớn hơn mọi điều trần thế: Nước Trời. Đã thành công chiếm hữu Nước Trời, đố ai có thể làm gì được ta. Ta sẽ đường đường chính chính tiến về phía Chúa, tiến về phía bất hoại trước mọi thứ mối mọt, mọi thứ ten sét. Đó là nơi không bao giờ mất giá, không ai có thể lấy đi.
Chúa biết chúng ta yếu đuối, nên Chúa nói "đừng sợ". Chúa biết chúng ta hay chùn bước, nên Chúa dạy "hãy tỉnh thức". Chúa biết chúng ta mong hạnh phúc thật, nên Chúa hứa "Cha anh em đã vui lòng ban Nước Trời cho anh em".
Hãy tin. Hãy vững vàng. Đừng để nỗi sợ chiếm chỗ của niềm tin. Hãy để niềm tin đẩy lùi sợ hãi. Và mỗi khi lo lắng, hãy nhớ, chúng ta chỉ là đoàn chiên nhỏ bé, nhưng được Mục Tử nhân lành chở che. mục lục
Lm. JB. NGUYỄN MINH HÙNG
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.