SUY NIỆM CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN_C
Lời Chúa: Am 6,1a.4-7; 1 Tm 6,11-16; Lc 16,19-31
LÒNG HAM MÊ TIỀN BẠC và KHOẢNG CÁCH ĐẾN VÔ CÙNG – ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
DỬNG DƯNG VÀ VÔ CẢM – + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên
GIÀU CÓ CÓ PHẢI LÀ TỘI KHÔNG? – Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD
CHUYỆN HAI SỐ PHẬN – Phêrô Phạm Văn Trung
GIÀU - NGHÈO, HẠNH PHÚC - BẤT HẠNH – Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
NGƯỜI BÊN CẠNH – Anna Cỏ may
BỔN PHẬN VỚI NGƯỜI NGHÈO – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
SỐNG – CHẾT ĐỜI ĐỜI – Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
ĐỪNG SỐNG VÔ CẢM TRONG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI – Lm. Vinhsơn Nguyễn Minh Huấn
LÒNG HAM MÊ TIỀN BẠC và KHOẢNG CÁCH ĐẾN VÔ CÙNG
+ ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Thời gian gần đây, chúng ta chứng kiến một số quan chức “ngã ngựa” và một số đại gia phải hầu tòa. Thông tin về các vụ việc này thường nêu những khối tài sản kếch xù có được do kiếm lợi bất chính. Cùng với những vụ việc tham ô gian lận, chúng ta cũng thường xuyên nhận được những thông tin về thiên tai bão lụt, mà hậu quả là nhiều người bị lũ cuốn trôi, lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, hoặc những trẻ em vùng cao thiếu trường lớp và dụng cụ học tập. Trong xã hội của chúng ta cũng như ở nhiều nơi trên thế giới, vẫn còn đó những người giàu sung túc phung phí và những người đói khát tả tơi. Vì thế, dụ ngôn Chúa Giê-su kể với chúng ta vẫn mang tính hiện tại, trong đời sống cụ thể mỗi ngày.
Nếu như những quan chức và đại gia bị kết án vì làm giàu bất chính, thì xem ra người phú hộ trong Phúc âm lại không hẳn như vậy. Phúc âm không nói đến việc ông này lừa lọc hay làm giàu bất chính, mà chỉ tả lại cảnh ăn chơi phung phí xa xỉ. Người phú hộ và La-da-rô là hai nhân vật được diễn tả hoàn toàn đối lập nhau trong cuộc sống đời này, cũng như hậu vận tương lai. Điều đáng trách đối với người phú hộ là ông ta dửng dưng và vô cảm trước nỗi đau của đồng loại. Khoảng cách từ trong nhà ra đến cổng chẳng bao xa, mà ông ta không vượt qua được. Qua dụ ngôn này, chúng ta thấy đức bác ái Ki-tô giáo không chỉ dừng lại ở lời khuyên công bằng sòng phẳng, mà còn lưu ý đến trách nhiệm liên đới của mỗi người đối với đồng loại. Kinh thú nhận mà chúng ta đọc trước lễ đã nêu rõ: chúng ta không chỉ xin Chúa tha cho những thiếu sót trong tư tưởng, lời nói và việc làm, mà còn những việc đáng ra có thể làm mà đã không làm. Trong trường hợp người phú hộ, ông ta có thể cho anh La-da-rô những gì thừa thãi sau bữa tiệc thịnh soạn mà chẳng mất gì, nhưng ông ta đã không làm điều đó.
Giáo huấn Ki-tô giáo dạy: con người ta giàu có không phải chỉ nhờ của cải, mà còn ở chính tư cách và lối sống của bản thân. Dụ ngôn rất tinh tế khi nói về ông phú hộ. Mặc dù ông có mọi sự, nhưng lại không có lấy một tên gọi, là yếu tố căn bản để xác định sự hiện hữu của một con người. Trong khi đó, La-da-rô nghèo khổ đến cùng cực, nhưng lại thực sự hiện hữu vì có một cái tên như biết bao người khác. La-da-rô là một nhân vị, tức là một tạo vật được Thiên Chúa tạo dựng và yêu thương. Dù trong hoàn cảnh nào, anh cũng không bị bỏ rơi. Phần kết của dụ ngôn đã chứng minh điều đó.
Nhiều người cố tình hiểu sai giáo lý của Chúa Giê-su, khi cho rằng, hễ ai sung sướng ở đời này, thì sẽ phải khổ đời sau và ngược lại. Chúa Giê-su không dạy chúng ta như thế. Người muốn mời gọi con người hãy sống có trách nhiệm với đồng loại, và hãy biết chia sẻ với anh em, vì mỗi người sở hữu điều gì thì đều do Chúa ban cho quản lý và sinh lợi. Một chuỗi những dụ ngôn nói về người giàu trong Tin Mừng thánh Lu-ca đều nhấn mạnh điều đó.
Thái độ dửng dưng và vô cảm bị lên án nhiều lần trong giáo huấn Thánh Kinh. Bài đọc I trích sách ngôn sứ A-mốt là một ví dụ. Vị ngôn sứ này quan tâm đặc biệt đến người nghèo. Ông diễn tả một Thiên Chúa luôn lắng nghe và bênh vực những người nghèo, đồng thời lên án những mánh khóe của người giàu. Họ tìm cách kiếm tiền thật nhiều mà quên nỗi khổ của những người đang gian nan đói khổ xung quanh. Hình ảnh Tổ phụ Áp-ra-ham nhắc lại lời hứa của Thiên Chúa. Ngài luôn bênh vực che chở những người cô thế cô thân. Đó cũng là nội dung lời Thánh vịnh 145 được xướng lên trong phần Đáp ca của thánh lễ Chúa nhật hôm nay. Thiên Chúa giải phóng người bị giam cầm, mở mắt người mù lòa và yêu chuộng người công chính.
Trong cuộc sống thực tế, không ai phủ nhận sự cần thiết của tiền bạc, vì “có thực mới vực được đạo”, như ông bà ta thường nói. Tuy vậy, lòng tham dễ khiến con người mờ mắt và bất chấp cả tiếng nói lương tâm. Những quan chức ngã ngựa và những đại gia phải ra tòa là lời khẳng định: quyền lực và tiền bạc không phải lúc nào cũng mang lại cho con người hạnh phúc lâu bền. Theo thánh Phao-lô, người giàu có đúng nghĩa là người đạo đức và giàu lòng tin. Hành trình đức tin là một cuộc chạy đua để đạt phần thưởng (Bài đọc II). Trong cuộc chạy đua này, chúng ta vẫn cần đến vật chất để đủ sức đến đích, nhưng chúng ta cũng cần ơn Chúa soi sáng để mình biết chọn đúng mục đích cho cuộc đời.
Người phú hộ và La-da-rô cuối cùng đều phải chết và được chôn trong những nấm mộ. Theo cái nhìn trần gian, chết là hết và dưới nấm mộ, người giàu người nghèo đều giống nhau. Trái lại, đức tin Ki-tô giáo khẳng định: chết không phải là hết, nhưng vẫn tồn tại. Số phận tương lai của con người không giống nhau, nhưng tùy thuộc vào nhân cách và lối sống của họ khi còn trên dương trần. Ông nhà giàu phải ở trong âm phủ, trong khi La-da-rô được hạnh phúc trong lòng Tổ phụ Áp-ra-ham. Thông điệp này đang được gửi đến mỗi người chúng ta. mục lục
+ ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên
1. Vấn đề
“Giàu là một cái tội.” Có đúng như vậy không? Bạn có biết ông phú hộ trong Tin Mừng đã phạm tội gì mà lại bị đầy ngay xuống âm phủ không? Không ai nói rằng ông ta phạm tội giàu có. Vậy bạn nghĩ sao? Có phải cứ hễ ai giàu có, được ăn sung mặc sướng, có của cải dư thừa như ông phú hộ thì khi chết sẽ bị đầy xuống âm phủ?
Tôi không nghĩ như vậy, bởi vì trong Cựu Ước, chúng ta thấy tổ phụ Ápraham, ông Giacóp, ông Giuse, ông Gióp, vua Đavít, vua Salômôn đều là những người rất giàu có. Như vậy, rõ ràng giàu có không phải là tội. Ông phú hộ bị phạt xuống âm phủ là vì tội khác, chứ không phải vì ông giàu.
2. Tội của ông phú hộ: Vô cảm với tha nhân
Bạn có biết ông phú hộ phạm tội gì không? Theo tôi nghĩ, ông ta đã phạm tội vô cảm.
Thật vậy, dụ ngôn kể rằng khi còn sống, ông phú hộ biết rõ anh Ladarô. Ngay trong cơn đau khổ dưới âm phủ, ông ta vẫn gọi đúng tên anh: "Lạy tổ phụ Ápraham, xin thương xót con, sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước nhỏ trên lưỡi con cho mát, vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm." (Lc 16,24)
Nếu đã biết tên người ăn mày, chắc chắn ông cũng thấy anh ta bị lở loét khắp người, thấy chó đến liếm các vết thương, nhưng ông vẫn dửng dưng. Ông không tỏ lòng thương xót, không cho anh Ladarô một mẩu bánh rơi từ bàn ăn của mình.
Vì vậy, ông phú hộ bị luận phạt không phải vì giàu có, mà vì sống vô cảm, thiếu tình thương và lòng nhân ái.
Chú thích:
-
Ân sủng: Hồng ân nhưng không Thiên Chúa ban cho con người để được cứu độ và thánh hóa.
-
Hiệp thông: Sự kết hợp trong Đức Kitô với Thiên Chúa và với nhau trong cùng một Thân Thể mầu nhiệm là Hội Thánh.
3. Lời mời gọi hoán cải và chia sẻ
Bạn thân mến, nếu bạn đồng ý rằng ông phú hộ phải chịu cực hình vì vô cảm, thì chúng ta đừng bao giờ sống như ông ta. Hãy sống rộng rãi, quảng đại, biết quan tâm đến tha nhân, bắt đầu từ chính gia đình mình:
-
Phụ giúp ông bà, cha mẹ trong chi tiêu sinh hoạt.
-
Tránh tiêu xài hoang phí hay ỷ lại vào cha mẹ.
Là giáo dân, hãy tích cực đóng góp cho giáo xứ, cho Giáo Hội. Nếu mỗi người đi làm mà mỗi tuần dâng cúng cho Chúa một giờ lương, chắc chắn các linh mục sẽ không phải nhắc đến chuyện tiền bạc trong các bài giảng nữa.
Bộ Giáo Luật cũng dạy rõ: “Các Kitô hữu có bổn phận nâng đỡ các nhu cầu của Giáo Hội để Giáo Hội có những gì cần thiết cho việc phụng thờ Thiên Chúa, thực thi công tác tông đồ và bác ái, cũng như để các thừa tác viên có đời sống xứng hợp” (Bộ Giáo Luật, điều 222 §1).
4. Lời hứa của Thiên Chúa dành cho người quảng đại
Sách Huấn Ca dạy: “Người quảng đại sẽ được dư đầy, còn kẻ hà tiện sẽ lâm cảnh túng thiếu” (Hc 11,24).
Chính Chúa Giêsu cũng hứa: “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại: Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc, và đầy tràn mà đổ vào vạt áo anh em; vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.” (Lc 6,38)
Trong ngày phán xét, Chúa sẽ nói với những người sống quảng đại: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng vương quốc dọn sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.” (Mt 25,34-36)
5. lời cầu chúc
Bạn và tôi hãy sống quảng đại, biết chia sẻ với tha nhân, với Giáo Hội, với cộng đoàn. Đừng vô cảm, keo kiệt, lãnh đạm như ông phú hộ kẻo phải chung số phận với ông ta dưới âm phủ.
Xin Chúa chúc lành cho bạn và gia đình bạn luôn sống trong ân sủng của Ngài, được bình an và hạnh phúc trong cuộc sống hằng ngày. mục lục
Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD
Mối tương quan của con người với của cải vật chất tạo ra nhiều thử thách. Giàu có mang lại tiện nghi nhưng có thể làm tâm hồn chai lì, mù quáng trước khổ đau của người khác. Niềm tin Kitô giáo mời gọi chiến đấu vì đức tin, và tình yêu trắc ẩn, vượt qua những sự phù hoa trần gian.
1. Vực Thẳm Vô Cảm
Tin Mừng theo Thánh Luca đã mở ra một bức tranh đầy tương phản giữa hai con người: một “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta” (Lc16: 19) và “một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no” (Lc 16:20-21). Tội lỗi của người phú hộ không phải là giàu có, mà là sự vô cảm và mù lòa tinh thần. Người phú hộ không ngược đãi nhưng cũng không hề “nhìn thấy” Ladarô ngay trước cửa. Đối với ông, Ladarô chỉ là cảnh vật vô hồn, trái tim hoàn toàn đóng kín trước người nghèo khổ.
Cái chết là điểm phân rẽ cho hai số phận. Ladarô, bị từ chối trên trần gian, được “thiên thần đem vào lòng ông Abraham” (Lc 16:22), ở trong sự an ủi và vinh quang của Nước Trời. Ngược lại, người phú hộ chết và xuống “dưới âm phủ, chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Abraham ở tận đàng xa, và thấy anh Ladarô trong lòng tổ phụ” (Lc 16:23). Khoảng cách giữa hai người, vốn là sự vô cảm trên trần thế, giờ đây đã trở thành một “vực thẳm lớn đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được” (Lc 16:26). Vực thẳm này không phải do Thiên Chúa tạo ra, mà là kết quả tất yếu của những lựa chọn sống của chính con người. Người phú hộ đã tự mình đào vực thẳm ấy bằng sự phớt lờ, còn Ladarô đã vượt qua nó bằng sự khó nghèo, nhẫn nhục và đau khổ của ông.
Người phú hộ xuống âm phủ vì tội thờ ơ và thiếu bác ái. Thánh Gioan Kim ngôn chỉ ra rằng: “Ông ta không gặp bất hạnh nào, mọi điều tốt lành đều tuôn chảy đến với ông ta như một nguồn suối bất tận. Không có điều gì trái ý xảy ra với ông ta…“ngày ngày yến tiệc linh đình.” Cái kết được định sẵn cho ông ta, và thậm chí trước khi ông ta chết, do sự thờ ơ của ông ta; bởi vì ông ta không hề thương hại người nghèo ở cổng nhà mình hay bất cứ ai khác, chính ông ta đã thể hiện điều đó. Bởi vì nếu ông không thương hại người đàn ông liên tục nằm ở cổng nhà mình, trước mắt ông, người mà mỗi ngày, khi ông ra vào, ông hẳn phải nhìn thấy…thì liệu ông có bao giờ động lòng trắc ẩn đối với bất cứ người đau khổ nào mà ông tình cờ gặp không? Ông ta không hề động lòng với người đàn ông tội nghiệp trông thật đáng thương, gầy gò vì đói và bệnh tật triền miên. Những điều này đều không lay chuyển được con người tàn nhẫn ấy, bỏ mặc những người đang chết đói, và khép chặt lòng trắc ẩn” [1]. Tội của ông ta không phải là điều ông ta đã làm, mà là điều ông ta đã không làm. Dù có tất cả điều kiện tốt lành để làm điều thiện, người phú hộ lại chọn cách sống trong sự nhởn nhơ, thờ ơ và lãnh đạm.
Điều đáng nói là ngay cả trong địa ngục, người phú hộ vẫn chưa thực sự thay đổi. Ông ta van xin ông Abraham sai Ladarô, người mà ông ta đã phớt lờ trên trần gian, đến để làm dịu cơn khát của mình: “Lạy tổ phụ Abraham, xin thương xót con, và sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm” (Lc 16:24). Ông ta vẫn coi Ladarô như một người đầy tớ, một công cụ để phục vụ lợi ích của mình. Con người ông không hề thay đổi, vì trong cuộc đời trần thế, ông đã chọn trở nên vô cảm như thế. Chính vì vậy, lời thỉnh cầu ấy đã bị từ chối, không phải vì Abraham tàn nhẫn, mà vì sự công thẳng của Thiên Chúa. Ông Abraham đáp: “Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn Ladarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, Ladarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ” (Lc 16:25). Lời giải thích này nhấn mạnh rằng Thiên Chúa công bằng và Ngài không bỏ rơi những người nghèo khổ, những người bị áp bức.
Khi lời van xin cho chính mình bị từ chối, người phú hộ quay sang xin cho năm người anh em của mình. Ông ta vẫn tin rằng chỉ một phép lạ phi thường, “nếu có người từ cõi chết đến với họ,thì họ sẽ ăn năn sám hối” (Lc 16:30), mới đủ để lay động lòng dạ của họ. Nhưng ông Abraham đáp lời: “Chúng đã có Môsê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó…Môsê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin” (Lc 16:29-31).
Đây là lời cảnh báo mạnh mẽ: lòng tin không cần phép lạ. Thiên Chúa đã bày tỏ ý muốn qua Lời Ngài. Nếu ta không lắng nghe, sống tự mãn và vô cảm, không phép lạ nào có thể cứu rỗi.
2. Vượt Qua Sự An Nhiên Tự Tại
Lời ngôn sứ Amốt từ thời Cựu Ước mang đến một lời cảnh tỉnh mạnh mẽ: “Khốn cho những kẻ sống yên ổn tại Xion, và sống an nhiên tự tại trên núi Samari” (Am 6:1). Giống như người phú hộ trong dụ ngôn của Chúa Giêsu, những người này không phải là những kẻ độc ác về bản chất. Tội của họ là tự mãn, sống xa hoa, hưởng thụ trong khi đồng bào của họ đang sống trong cảnh lầm than.
Amốt mô tả chi tiết lối sống của họ: “Chúng nằm dài trên giường ngà, ngả ngớn trên trường kỷ, mà ăn những chiên non nhất bầy, những bê béo nhất chuồng. Chúng đàn hát nghêu ngao; như Đavít, chúng dùng nhạc cụ mà sáng tác. Chúng uống rượu cả bầu, xức dầu thơm hảo hạng” (Am 6:4-6). Tiên tri Amốt đã vạch trần một cách thẳng thừng sự phè phỡn, coi thường luân lý của những “nhà lãnh đạo của dân đứng đầu các dân” (Am 6:1).
Lời kết tội của tiên tri Amốt không chỉ lên án sự xa hoa, mà còn cả sự thiếu đồng cảm với nỗi đau của dân tộc. Tội lớn nhất của những người giàu có là “chẳng biết đau lòng trước cảnh nhà Giuse sụp đổ!” (Am 6:6). “Nhà Giuse” là hình ảnh của toàn thể dân Israel đang sống trong bất công. Giống như người phú hộ và Ladarô, những người này đã tạo ra một vực thẳm giữa họ và người cùng khổ, sống tách biệt khỏi hoàn cảnh đau thương của xã hội và không thể cảm nhận nỗi đau của đồng loại mình.
Lời cảnh báo của Amốt vẫn còn vang vọng trong Giáo huấn Xã hội của Giáo hội. Đức Phanxicô, đã lên án “các lợi ích của giới quyền lực, muốn lợi dụng sự tự ti của dân chúng, để hình thành một nền văn hóa mới phục vụ giới tinh hoa, nhờ các phương tiện truyền thông và mạng internet. Chỉ những kẻ cơ hội chuyên đầu cơ tài chính và những kẻ bóc lột là được hưởng lợi, còn người nghèo thì luôn thua thiệt” (Thông điệp Fratelli Tutti, số 52), và nhấn mạnh rằng “Một người bị tấn công trên đường, thế mà nhiều người ngoảnh mặt bỏ đi như không thấy gì. Thường có những người lái xe gây tai nạn rồi bỏ chạy luôn. Việc quan trọng duy nhất đối với họ là tránh rắc rối; ai đó có phải chết vì lỗi của họ, họ cũng chẳng quan tâm. Nhưng đây là dấu chứng cho thấy có một lối sống phổ biến được tỏ lộ bằng nhiều cách thế, có khi tinh tế khó nhận biết hơn. Lại nữa, vì tất cả chúng ta đều tập trung lo cho nhu cầu của mình, nên khi gặp ai đó đang đau khổ thì chúng ta cảm thấy khó chịu, cảm thấy bị quấy rầy, bởi lẽ chúng ta không muốn tốn thời giờ để dàn xếp những vấn đề của người khác. Đó là triệu chứng của một xã hội đang đau bệnh, chỉ lo vun đắp cho mình và quay lưng lại trước khổ đau của người khác” (Fratelli Tutti, số 65). Tiên tri Amốt đã tuyên bố rằng Thiên Chúa không bao giờ quên những việc làm này: “Vì thế, giờ đây chúng sẽ bị lưu đày, dẫn đầu những kẻ bị lưu đày. Thế là tan tác bè lũ quân phè phỡn!” (Am 6: 7). Đây là lời cảnh báo về sự phán xét của Thiên Chúa, về sự sụp đổ tất yếu của một xã hội thiếu công bằng và tình yêu thương.
3. Lời Mời Gọi Sống Đời Sống Công Chính
Nếu dụ ngôn về người phú hộ và Ladarô là một lời cảnh báo, thì lời của Thánh Phaolô gửi Timôthê lại là một hướng dẫn cụ thể để không rơi vào số phận ấy. Thánh Phaolô kêu gọi Timôthê, và mỗi Kitô hữu, hãy tránh xa: “mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé” (1 Tm 10) và trở nên “người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến, hãy gắng sống nhẫn nại và hiền hoà” (1 Tm 6:11). Đây là những nhân đức đối lập hoàn toàn với lối sống phủ phê và vô cảm của người phú hộ. Cuộc sống của Kitô hữu là một cuộc chiến, không phải để tích lũy của cải, mà là để “thi đấu cao đẹp vì đức tin, giành cho được sự sống đời đời” (1 Tm 6:12).
Đây là cuộc chiến tinh thần, đòi hỏi kiên trì và can đảm. Thánh Phaolô nhắc nhở Timôthê về “lời tuyên xưng cao đẹp” trước mặt nhiều nhân chứng. Đó là lời cam kết sống trọn vẹn theo Tin Mừng, làm chứng cho tình yêu và sự thật của Thiên Chúa.
Thánh Phaolô còn truyền cho Timôthê một sứ mệnh: “hãy tuân giữ điều răn của Chúa mà sống cho tinh tuyền, không chi đáng trách, cho đến ngày Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, xuất hiện” (1 Tm 6:14). Sứ mệnh này đòi hỏi chúng ta phải sống một đời sống mẫu mực, làm chứng cho Tin Mừng không chỉ bằng lời nói mà còn bằng hành động, nhất là trong một thế giới bị ám ảnh bởi quyền lực và tiền bạc.
Đức Phanxicô đã nhắc nhở chúng ta rằng: “Tôi không phải là những thứ tôi sở hữu và những thành công tôi cố gắng đạt được; giá trị cuộc sống của tôi không phụ thuộc vào việc tôi có thể khoe ra bao nhiêu, cũng không giảm đi khi tôi thất bại và gục ngã…Những bất công, những bất bình đẳng, sự phân bổ không đồng đều các nguồn lực trên trái đất, sự lạm dụng của kẻ quyền lực đối với kẻ yếu, sự thờ ơ với tiếng kêu của người nghèo, vực thẳm mà chúng ta đào bới hàng ngày tạo ra sự kỳ thị…Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta dấn thân để hoán cải hữu hiệu từ thờ ơ sang cảm thông, từ lãng phí sang chia sẻ, từ ích kỷ đến tình yêu, từ chủ nghĩa cá nhân đến tình huynh đệ” [2].
Lời khuyên của Thánh Phaolô kết thúc với một lời ca tụng Thiên Chúa: “Chỉ mình Ngài là Đấng trường sinh bất tử, ngự trong ánh sáng siêu phàm, Đấng không một người nào đã thấy hay có thể thấy. Kính dâng Ngài danh dự và uy quyền đến muôn đời. Amen.” (1 Tm 6:16).
Mọi thứ trên đời đều phù du. Chỉ Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống. Đời sống Kitô hữu là nhận ra sự thật này và đặt hy vọng vào Ngài. Sự sống đời đời không phải món quà ngẫu nhiên, mà là kết quả của cuộc chiến đấu không ngừng nghỉ vì tình yêu và sự sẻ chia. Lựa chọn hôm nay quyết định nơi cư ngụ vĩnh cửu của chúng ta. mục lục
Phêrô Phạm Văn Trung
[1] Discourse I. A homily delivered at antioch on the second day of the month, No.6.
https://www.tertullian.org/fathers/chrysostom_four_discourses_01_discourse1.htm
[2] Thánh lễ kết thúc Đại hội Thánh Thể toàn quốc của Ý lần thứ 27 https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2022-09/dtc-phanxico-thanh-le-dai-hoi-thanh-the-toan-quoc-y-matera.html
GIÀU - NGHÈO, HẠNH PHÚC - BẤT HẠNH
Chúa không yêu con người cách chung chung mơ hồ, không theo chủ nghĩa "đại trà" lạnh lùng, vô hồn. Chúa không dừng ở đám đông, hay nhìn tổng quát về nhân loại. Chúa biết từng gương mặt, từng số phận, từng cảnh đời. Chúa thấu từng tiếng thở dài, từng giọt lệ, từng nỗi đau. Chúa nghe từng tâm hồn, từng tính cách, từng nhân vị duy nhất mà Chúa đã dựng nên bằng chính tình yêu.
Do đó, khi kể dụ ngôn phú hộ và Lazarô, Chúa Giêsu vẽ lên bức tranh vừa thật, vừa sắc nét, vừa đau lòng. Đó không là câu chuyện của ngày xưa, mà là của muôn đời, phản chiếu những tương phản và nghịch lý trong xã hội hôm nay.
Một bên là ánh sáng của nhung lụa, của hưởng thụ dư thừa; một bên là bóng tối của bị bỏ rơi, bị khinh chê, bị lãng quên. Một bên là bàn tiệc ê hề, ăn không hết; bên kia là thân phận chỉ mong chút bánh vụn rơi xuống cũng không có. Các con chó còn biết liếm vết thương, trong khi đồng loại lại làm ngơ.
Dụ ngôn làm nổi bật một khoảng cách kỳ lạ. Kỳ lạ, bởi xét về không gian, họ thật gần nhau - chỉ cách nhau một cánh cửa, một bức tường, chỉ là trong - ngoài của một ngôi nhà. Nhưng xét về tâm hồn, về tình thương, họ lại xa vời vợi. Xa đến mức không thuộc về nhau, chẳng có chút dây liên hệ nào, hoàn toàn là hai thế giới đối nghịch: một kẻ dư dật không biết chia sẻ, một kẻ thiếu thốn đến cùng cực mà chẳng được đoái hoài.
Và rồi, khi cuộc đời khép lại, số phận lại đảo ngược. Kẻ từng sáng chói ở đời này thì rơi vào tăm tối đời sau. Người từng ngụp lặn trong bóng tối trần gian lại được chiếu soi trong ánh sáng vinh quang của Thiên Chúa. Nếu ngày xưa, xét về không gian, họ gần nhau trong gang tấc, thì giờ đây, giữa họ, lại là một vực thẳm ngăn cách, không thể vượt qua. Vực thẳm không do Thiên Chúa dựng nên, nhưng do chính con người tạo ra, khi họ dựng tường ngăn mình với tha nhân, khi họ khép lòng trước những khốn khổ ngay bên cạnh mình.
Tội của ông phú hộ không phải là làm điều ác. Ông chẳng cướp, chẳng đánh, chẳng giết ai. Nhưng chính vì không làm gì cả mà ông trở thành kẻ có tội. Tội của ông là tội làm ngơ, tội phớt lờ, tội thiếu sót: không nhìn, không nghe, không thấy những Lazarô đang quằn quại bên ngoài cửa. Ông đã không làm điều lẽ ra mình phải làm. Đó là sự dửng dưng, sự thờ ơ giết chết tình người.
Còn Lazarô, chẳng lập chiến công, chẳng vì nghèo mà phúc. Nhưng phúc vì tin, phó thác, kiên nhẫn chịu đựng, và cậy trông vào Chúa. Lazarô theo Tin Mừng Luca: "Thiên Chúa là Đấng phù trợ tôi". Chính sự nghèo gắn liền với lòng tin, giúp ông nên con cái Abraham, cha của những kẻ tin. Ông ngồi trong lòng Tổ phụ, không vì có của, nhưng vì có đức tin, và bền tâm tín thác.
Thánh Luca, với ngòi bút sắc bén, đã cho thấy toàn bộ bi kịch của nhân loại: Người giàu thì giàu của cải nhưng nghèo tình thương; người nghèo thì nghèo vật chất nhưng cũng chẳng được ai thương. Cả hai đều thiếu thốn: kẻ không thương ai, người không ai thương!
Dụ ngôn không chỉ phơi bày một mảnh đời, nhưng còn là một tiếng kêu lay động lương tâm, để mọi người nhận ra khoảng cách giàu - nghèo, không phải chỉ là vấn đề kinh tế, nhưng trước hết là vấn đề TÌNH NGƯỜI.
Tiên tri Amos từ xưa đã từng lên án lối sống xa hoa, phè phỡn của những kẻ giàu mà không đoái hoài đến cảnh khốn cùng của anh em. Ông cảnh báo những hình phạt khủng khiếp dành cho những tâm hồn ích kỷ, khép kín. Của cải đã trở thành bức tường, ngăn họ lại trong một thế giới riêng, khước từ Thiên Chúa và khước từ tha nhân. Để rồi vực thẳm đó kéo dài sang cả đời sau.
Đức Gioan Phaolô II trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ năm 1979 đã nhắc nhở thế giới bằng một lời cảnh tỉnh đầy sức mạnh: "Chúng ta không thể thờ ơ vui hưởng của cải và tự do của mình, nếu ở bất cứ đâu trên thế giới này, người nghèo khó Lazarô của thế kỷ XX vẫn còn đứng chờ ngoài cửa… Các bạn đừng bao giờ chỉ cho họ những mẩu bánh vụn nơi bàn tiệc, nhưng hãy dành cho họ phần chính yếu của cuộc sống. Và hơn thế nữa, hãy đối xử với họ như những thực khách trong chính gia đình các bạn".
Lời Đức Thánh Cha vẫn còn nguyên tính thời sự. Bởi hôm nay, vẫn còn đó biết bao Lazarô: nghèo vật chất, nghèo văn hóa, nghèo tình thương. Vẫn còn đó những tiếng kêu không thành lời, những mảnh đời bị bỏ quên bên lề xã hội.
Là Kitô hữu, chúng ta không được phép sống khép kín, không thể dửng dưng. Chúng ta được mời gọi sống quảng đại, biết chia sẻ, biết liên đới, biết để trái tim mình rung động trước nỗi đau của tha nhân.
Không ai sống một mình. Chúng ta không là những đường thẳng song song, không bao giờ gặp nhau. Vận mệnh chúng ta gắn chặt, đan xen với nhau. Không ai có thể tự khép đời mình mà không ảnh hưởng đến anh em. Trách nhiệm liên đới là không thể thiếu. Ta cần học mỗi ngày để trái tim nhạy bén biết cảm thương, một trái tim quảng đại biết chia sẻ. Tình thương không tự có, phải luyện, phải trau dồi qua từng hành động nhỏ bé của cuộc sống hằng ngày.
Dụ ngôn là lời mời gọi mạnh mẽ, nhưng cũng rất dịu dàng: HÃY MỞ LÒNG RA. Kẻ giàu học sẻ chia, để giàu không là vực thẳm ngăn cách đời đời. Kẻ nghèo học kiên nhẫn phó thác, để nghèo không thành tuyệt vọng, nhưng là dịp để gắn bó với Thiên Chúa. Và tất cả chúng ta, dù giàu dù nghèo, đều được mời gọi sống thật với nhau bằng tình yêu, nhân ái, cảm thông và sẻ chia.
Đừng bao giờ để có một Lazarô nào còn phải chờ đợi trước cửa nhà. Đừng để có ai bên cạnh rơi vào cảnh cùng cực mà ta lại lặng thinh. Lời Chúa đã chỉ rõ, vực thẳm của đời sau chính là hệ quả của sự vô tâm và dửng dưng nơi đời này. mục lục
Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
Trong cuộc sống, dù đi đâu, ở nơi nào, chúng ta đều nhìn thấy bên cạnh mình những người giàu có và cả những người nghèo khổ. Sự giàu có và nghèo khổ diễn ra ở hiện tại và sẽ đem lại điều gì cho chúng ta ở đời sau?
Cuộc sống của người giàu diễn ra như thế nào? Trong Tin Mừng theo thánh sử Luca, ngài miêu tả về người giàu có ăn mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình (x. Lc 16,19). Nhìn vào cuộc sống thực tại, những người giàu sống trong tòa nhà cao cấp, có xe đưa đón, ăn mặc sang trọng, tay đeo những đồ trang sức long lanh và tay cầm chiếc điện thoại đa năng. Nhưng trong số những người giàu, có bao nhiều người biết nhìn đến người nghèo khổ? Còn người nghèo khổ, họ không những nghèo về vật chất mà còn nghèo về trí thức và phải mang trên mình căn bệnh hiểm nghèo. Anh Ladaro nghèo nàn, thân mình đầy mụn nhọt nằm trước cổng ông nhà giàu. Anh chỉ thèm được ăn những gì trên bàn của chủ rơi xuống mà ăn cho no. Bên cạnh anh cũng có lũ chó đang chờ đợi như anh vậy. Chốc chốc, chúng đến liếm ghẻ chốc trên thân mình anh. Một cái nghèo không còn gì để nghèo hơn nữa (x. Lc 16,20-21). Khi chết, anh đã được thiên thần đưa vào lòng ông Apraham. Người giàu có cũng chết, người ta đem đi chôn. Như vậy, sau khi chết, họ đã phải đổi vị trí cho nhau: người giàu phải bị lửa thiêu đốt khổ cực, người nghèo được an ủi trên Nước Trời. Lúc này, không ai có thể giúp hay tỏ lòng thương xót ai được. Chỉ có cuộc sống trần gian, người ta mới có thể giúp nhau sống hạnh phúc ở đời này và kéo dài cho đến đời sau.
Ông nhà giàu xứng đáng chịu cực khổ như vậy vì ông đã sống trong tính kiêu căng qua việc ăn mặc lụa là, xa hoa và phung phí. Ông lâm vào con đường mê ăn uống là hằng ngày mở tiệc linh đình. Ông còn mang tội bất nhân, ích kỷ đã không thèm để ý giúp đỡ người nghèo trước cửa. Ông rơi vào cuộc sống của các mối họa (x. Lc 6,24-26). Còn anh Ladaro, anh đã sống trọn mối phúc Nước Trời (x. Lc 6,20-23)). Anh vui vẻ đón nhận những sỉ nhục, sự nghèo hèn là lê lết ăn xin. Anh không than trách phận mình với trời cũng không chê trách ông nhà giàu keo kiệt, anh chỉ ước được ăn những gì trên bàn ông nhà giàu rơi xuống cho no. Như vậy, dù chúng ta giàu hay nghèo mà sống trong ích kỷ và bất nhân thì sẽ lãnh hình phạt xứng đáng. Nếu biết thực thi bác ái, chúng ta sẽ được hưởng hạnh phúc trên Nước Trời.
Lạy Chúa, xin chớ để con phải ăn mày cũng đừng để con giàu có. Xin chỉ ban cho con hằng ngày dùng đủ. Kẻo khi giàu, con bị mê hoặc mà bỏ anh em hoặc khi túng thiếu con làm những việc sai trái làm ô danh Chúa. Amen. mục lục
Anna Cỏ may
Dụ ngôn của Chúa Nhật hôm nay nói về lối sống nhung lụa của ông phú hộ và cảnh nghèo hèn đói khát của La-da-rô. Nó là tiếng chuông báo động, nhắc nhở, cảnh tỉnh lối sống vô tâm và vô cảm của chúng ta. Dụ ngôn còn là lời mời gọi chúng ta thay đổi lối sống sao cho có trách nhiệm hơn trong một xã hội mà người nghèo chiếm đa số.
Trong dụ ngôn, Đức Giê-su giới thiệu hai nhân vật: Người giàu không có tên, còn ông nghèo hèn kia, tên là La-da-rô. Một nghịch lý, vì theo thói đời, những người giầu có quyền quí mới được khắc tên trên bia đá, bảng vàng để mọi người ghi nhớ; còn có ai dư giờ, rỗi hơi mà ghi tên những người nghèo. Chỉ mình Chúa quan tâm, thương yêu và hay bênh vực họ.
Trình thuật mô tả hai cảnh đời trái ngược nhau. Chúa không hề nói đến cách làm giàu của ông phú hộ; và cũng không hề ca tụng cảnh nghèo của La-da-rô. Không có chỗ nào nói La-da-rô là một con người nhân đức, anh chỉ được giới thiệu là một người nghèo. Cũng vậy, không có chỗ nào nói ông nhà giầu là kẻ ác ôn, đã vơ vét của cải một cách mờ ám, đã chiếm đoạt, đã bóc lột một cách bất chính, đã lợi dụng hay ngược đãi La-da-rô. Chúa cũng không bảo La-da-rô là người đức hạnh và ông nhà giầu là người xấu xa. Chỉ đơn giản, ông nhà giầu là người giầu, La-da-rô là người nghèo.
Ông nhà giầu đã nhìn thấy La-da-rô nghèo đói khốn cùng, đang nằm ở ngoài cổng mà ông không hề động tâm. Giữa họ có một khoảng cách. Khoảng cách không phát sinh từ hoàn cảnh; cho bằng lối sống và cách chọn lựa của ông nhà giầu. Ông ta là người vô cảm, không hề biết quan tâm. Ông dửng dưng và khép kín cõi lòng!
Như vậy, qua dụ ngôn, Chúa muốn gửi cho chúng ta một sứ điệp là: Nếu chúng ta không quan tâm, không giúp đỡ, không thuơng yêu người nghèo hèn thì chúng ta không còn là bạn của Đức Giê-su nữa.
Vẫn biết sứ điệp thật rõ ràng. Nhưng áp dụng không dễ dàng.
Khi còn làm việc tại trung tâm Hoan Thiện, một cơ sở công giáo của người Việt tại Keysborough và các vùng phụ cận thuộc về phía nam của thành phố Melbourne. Tôi thuờng gặp những hoàn cảnh thật khó xử. Có những người đến xin được giúp đỡ. Dân Việt mình thì xin chứng giấy tờ, bảo đảm đức hạnh. Còn những nguời khác, người thì xin tiền, kẻ khác đổ xăng hay trả tiền thiếu hụt thuê nhà, v..v...
Lòng thì muốn giúp, thế nhưng đầu óc, kinh nghiệm và những lời khuyên của các vị lão luyện trong việc mục vụ làm tôi chần chừ. Cuối cùng, tôi cũng tìm cách thoái thác và gửi họ đến các văn phòng xã hội lo cho người nghèo, như văn phòng của hội bác ái St. Vincent de Paul. Tuy giải quyết xong vấn nạn. Nhưng lòng tôi cảm thấy không thoải mái khi tiễn chân họ ra khỏi trung tâm. Cách hành xử như thế, tuy là có chút khôn khéo, nhưng chưa hẳn là khôn ngoan.
Thưa anh chị em,
Như đã trình bầy ở trên: trọng tâm và sứ điệp của dụ ngôn là việc chia sẻ mối dây yêu thuơng và lòng quan tâm của chúng ta dành cho người nghèo. Nhưng điều này không chỉ bị hạn hẹp trong việc chia sẻ tiền bạc, cơm bánh mà thôi.
Còn hơn thế nữa.
Tác giả của dụ ngôn truớc tiên nhắm đến những người biệt phái. Chúng ta đừng quên cộng đòan mà Thánh Lu-ca thành lập là một cộng đòan dân ngọai gốc Hy lạp. Tuy nhiên, cũng có một số gốc biệt phái. Họ chủ truơng rằng sự giầu sang, thịnh vuợng mà họ đang thụ huởng là phần thuởng và dấu chỉ mà Thiên Chúa phải trao ban để tuởng thuởng cho các việc lành phúc đức và lối sống chu tòan lề luật của họ. Còn đám dân ngọai kia biết gì về Chúa. Sự hiểu biết thiển cận của họ về lề luật của Chúa nói lên tình trạng nghèo nàn của họ. Trong con mắt của những người biệt phái thì đám dân nghèo đó thật đáng khinh. Họ giống như La-da-rô, ngồi bên ngoài nhà tại cổng ra vào để chờ chực phần ăn rơi rớt từ trên bàn tiệc của những nguời biệt phái vậy.
Quan niệm của những người biệt phái thật sai lầm. Thiên Chúa của Đức Giê-su không hành động như thế. Tất cả mọi người đều là hình ảnh của Thiên Chúa. Con người thật đáng yêu đáng mến. Không có việc lọai trừ hay phân chia giai cấp dựa trên tiêu chuẩn giầu hay nghèo, sang hay hèn. Tất cả đều bình đẳng trong tương quan với Thiên Chúa.
Thánh Phaolô nói rằng không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Giê-su. Vì vậy, chúng ta được mời gọi để nhận ra, để nhìn thấy Chúa Giê-su trong nhau, và cũng nhận ra các giá trị thiêng liêng qua việc chia sẻ vật chất dành cho người khác. Và chỉ trong mối dây tuơng quan mật thiết luôn nghĩ đến nhau, luôn quan tâm cho nhau mới giúp chúng ta lắp đầy hố sâu ngăn cách vì vô tâm, vì ích kỷ để nối kết con người lại gần nhau hơn, và trở thành một gia đình mà chính Chúa là nguời Cha duy nhất.
Đó là mối quan hệ mà Chúa Giê-su mời gọi chúng ta xây dựng.
Vì vậy, Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta buớc ra khỏi tình trạng an tòan trong cuộc sống để ra đi bằng việc làm hàn gắn các hố sâu ngăn cách và kết nối con người lại với nhau. Chúng ta không cần chờ đến sau khi chết mới thấy hậu quả của cuộc sống “vô cảm, vô tâm” của ông phú hộ trong dụ ngôn hôm nay. Ngay đời này. Mấy ai sống trong nhung lụa mà thấy hạnh phúc. Họ đang tự chôn mình trong nỗi cô đơn mà chính họ tạo ra.
Như vậy, dụ ngôn không hề có ý mô tả cuộc sống mai sau. Dụ ngôn muốn nói rằng cuộc sống hiện tại của mấy ông nhà giầu cho dù có sướng thật, nhưng chưa hẳn là một cuộc sống có giá trị. Sự hiện diện của người nghèo không phải là một gánh nặng trong cuộc sống của ông; trái lại qua những người nghèo, mấy ông nhà giầu phải nhận ra rằng cuộc sống của họ đang thụ hưởng chỉ đem lại hạnh phúc đích thật nếu họ biết chia sẻ, xây dựng mối dây thân ái, tạo sự hiệp thông bằng việc làm như những lời vàng ngọc mà chúng ta đã nghe trong phần Lời Chúa của tuần trước là hãy dùng tiền của bất chính mà gây nhân nghĩa. Nhân nghĩa là xây dựng đền thờ trong tâm hồn con người… Nhưng hình như, uớc muốn của các người nghèo như La-da-rô trong bài Tin Mừng hôm nay không đuợc đáp ứng; và như vậy số phận của ông nhà giầu coi như đã được quyết định.
Còn chúng ta thì sao?
Không có ai, kể cả người chết sống lại, có thể buộc chúng ta phải yêu mến. Lời Chúa, lề luật và các ngôn sứ đã được gửi đến. Mặc khải đã có sẵn. Đức Giê-su đã đến. Việc đón nhận để áp dụng vào trong cuộc sống là bổn phận của chúng ta.
Vực sâu lớn nhất của cuộc đời là ích kỷ, là vô cảm, là vô tâm và chỉ biết đến bản thân. Vì thế, chỉ có việc quan tâm, để ý đến nhu cầu của người khác mới tạo nên những nhịp cầu, những lối đi dẫn con người đến sự hiệp thông, đến tình liên đới. Khi biết để ý đến người khác, dù chỉ là một nụ cười, đôi lời tâm sự, vài phút bên nhau hay một bữa cơm, một lời hỏi thăm … tất cả đều là dấu chỉ mà Thiên Chúa gửi đến.
Trong Chúa tất cả đều dễ thương, tất cả đều trở thành cơ hội để hành động. Vì thế, đừng sống vô tâm, đừng đến với nhau như những người vô cảm. Còn rất nhiều La-da-rô trong gia đình và xã hội. Họ đang sống ngay bên cạnh sự nguy nga hoành tráng của các ngôi Thánh Đường, họ đang sống giữa lòng đời và trong lòng Hội Thánh. Họ đang chờ chúng ta băng bó, suởi ấm để cho cuộc đời bớt băng giá hơn.
Ai trong chúng ta cũng nghèo. Nhận ra tình trạng nghèo của bản thân để biết rằng: chỉ có trong Chúa chúng ta mới giàu có, chỉ có trong Chúa chúng ta mới làm được những gì mà Chúa muốn. Amen! mục lục
Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
Đức Gioan-Phaolô II, khi còn tại chức, từng có một chuyến công du đặc biệt đến Brasil (Nam Mỹ) từ 1-11/7/1980. Ngày 3/7, tại São Paulo, một trong những thành phố lớn nhất Brasil, người đã có bài phát biểu quan trọng trước một đám đông hơn 100.000 công nhân. Diễn văn tập trung vào việc kêu gọi giải phóng xã hội khỏi mọi hình thức áp bức bất công từ chính trị đến kinh tế, từ văn hóa đến giáo dục... Đặc biệt, Đức Giáo hoàng đã áp dụng dụ ngôn ta nghe hôm nay cho thế giới hiện đại, cách tập thể. Người nói: “Bên cạnh những nước giàu, nơi người ta sống với tất cả tiện nghi hiện đại, lại có nhiều nước khác thiếu những cái cơ bản nhất... Nhiều khi sự phát triển là một phiên bản vĩ đại của dụ ngôn ông nhà giàu và anh La-da-rô nghèo khổ. Việc xa hoa và khốn khổ cận kề nhau nêu bật cảm thức bị tước đoạt nơi những con người xấu số.”
Sở dĩ vị Giáo hoàng từng viết thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (Bận tâm về vấn đề xã hội) quý chuộng dụ ngôn ấy vì đây là một trong những trang đáng sợ nhất của toàn bộ sách Tin Mừng. Nếu Thiên Chúa không hiện hữu... nếu sự sống đời đời chẳng hề có... thì Đức Giê-su sai lầm, chớ nghe Người. Nhưng nếu Thiên Chúa hiện hữu... nếu vĩnh cửu có thật... thì điều Đức Giê-su nói với ta rất... rất nghiêm túc. Thật trầm trọng nếu hỏng mất cuộc sống đời đời của mình vì chỉ lo giành giật cuộc sống tạm bợ trần gian với con tim vô cảm.
Hai Thế Giới Tách Biệt Nhau Bởi Một “Cái Cổng”
Đức Giê-su dựng ra một tình huống bi thảm: bên trong một ngôi nhà, người ta chè chén trong sự xa hoa... bên ngoài, sát cạnh, là cảnh khốn khổ... giữa hai bên có một “cái cổng.” Cổng này phân cách kẻ giàu với người nghèo. Hai vũ trụ song đối. Người giàu sống trong thế giới khép kín trên chính mình, chẳng khi nào bước ra.
Một trong những điểm đáng lưu ý nhất của dụ ngôn, đó là người ta không bảo anh nghèo đạo đức và ông giàu xấu xa. Một bên chỉ đơn giản nghèo khổ và một bên chỉ đơn giản giàu có. Tay phú hộ chẳng bị kết án đã ăn trộm của La-da-rô, hoặc đã tước đoạt anh này thông qua một hoạt động thương mại khôn khéo nào đó, hoặc không trả lương xứng đáng, hoặc đã ngược đãi, bóc lột anh ta... Thậm chí người ta không bảo ông ta đã từ chối bố thí cho anh nghèo! Đơn giản là ông đã chẳng thấy anh! Mẹ Tê-rê-xa Calcutta từng nói: “Đối nghịch với yêu mến không phải là thù ghét nhưng là dửng dưng!” Ông nhà giàu đã để hình thành một “cái cổng” đáng sợ giữa ông với người lân cận.
Đối với Đức Giê-su, đó là nguy cơ lớn từ của cải. Sự sang giàu bao hàm hai hiểm họa. Một là nó có thể khép lòng trước Thiên Chúa: ta thỏa mãn với những lạc thú và tài sản trần gian, quên đi sự sống đời đời là điều chủ yếu. Hai là của cải cũng có thể khép lòng trước tha nhân: ta chẳng còn thấy kẻ nghèo nằm trước “cổng” nhà mình. Tấm gương trong giúp nhìn thấy mọi vật, nhưng một tấm gương tráng “bạc” chỉ cho thấy mình!
Thực tế, dụ ngôn của Đức Giê-su đan xen một loạt ý nghĩa mà ta cần làm nổi bật và chuyển thành những lời kêu gọi cho lương tâm Ki-tô giáo. Trước hết, có sự đồng cảm rõ ràng với người nghèo: một đặc điểm thường trực trong sứ điệp của Lu-ca, cùng với lòng khinh miệt thói dung tục, xa hoa và ngạo mạn của người giàu. Đây là một chủ đề quen thuộc với nhiều sứ ngôn Kinh Thánh, và vì thế phụng vụ, trong bài đọc thứ nhất, đã trích một trang đầy nhiệt huyết của vị ngôn sứ nông dân sống vào thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên là A-mốt (6,1a.4-7), người từng thẳng thắn lên án “những cuộc chè chén say sưa của bè lũ quân phè phỡn” ở Sa-ma-ri-a, thủ đô vương quốc Ít-ra-en phía bắc. Cũng vang vọng ở đây các “mối họa” đi kèm với các “mối phúc” Đức Giê-su từng phán trong Lu-ca thánh sử: “Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi được phần an ủi của mình rồi! Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói” (6,24-25)
Hai Thế Giới Tách Biệt Nhau Bởi Một “Cái Vực”
Cùng với chủ đề nêu trên, vốn đánh vào thói chuộng sung túc và chủ nghĩa tiêu thụ trắng trợn của thế giới hiện đại mà chúng ta đang chìm vào trước cảnh khốn cùng của vô số người nghèo khổ, Đức Giê-su ngay lập tức làm nổi lên một chủ đề khác: sự đảo ngược số phận khi thần chết tông cửa. Một sự đối lập được đưa ra giữa hiện tại đầy tai tiếng của lịch sử, trong đó, như A-mốt từng nói ở một trang khác, “đầu kẻ yếu thế bị đạp xuống bùn đen” (2,7), với tương lai của Vương quốc Thiên Chúa, nơi những người nghèo cuối cùng sẽ được tôn vinh và những kẻ giàu sẽ nếm mật đắng của đói khát và đau khổ. Tiêu biểu cho điều này là câu 25, được Lu-ca soạn thảo với nét tinh tế tột độ, sử dụng một loạt từ ngữ phù hợp và gần như điển hình của ông: “Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi ; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ.”
Nhưng còn một giáo huấn khác mà Đức Giê-su muốn chúng ta lưu ý trong phần thứ hai của dụ ngôn. Nó được minh họa bằng lời Ap-ra-ham nói: “Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.” Một mặt, có lòng sùng mộ phép lạ dễ dàng, hiện thân nơi tay phú hộ ăn nhậu: để cứu thân thuộc khỏi nỗi bất hạnh cuối cùng giáng xuống trên mình, ông ta muốn Thiên Chúa dùng đến phép lạ kỳ diệu là làm cho một kẻ chết sống lại trở về cảnh bảo. Câu đáp rất rõ ràng và mặt khác, mở ra lòng sùng mộ dựa trên Lời Chúa. Chỉ có Lời Chúa mới cần thiết và cứu rỗi chúng ta. Nhưng ai có lương tâm bị ích kỷ che mờ, con tim bị lạc thú quyến rũ, cõi lòng bị của cải trần gian đè nặng, đôi tai bị tiếng ồn của giải trí gây điếc, thì khó có thể được lôi cuốn bởi lời kêu mời hoán cải có trong sách Mô-sê và các Ngôn Sứ, nghĩa là trong Thánh Kinh. Ai quen với một cuộc sống hào nhoáng rộn ràng không thể nghe được tiếng của vị Thầy thần linh nói trong thâm tâm và thinh lặng. Như Áp-ra-ham, Đức Giê-su từng khiển trách hai thành phố miền Ga-li-lê: “Khốn cho ngươi, hỡi Kho-ra-din! Khốn cho ngươi, hỡi Bết-xai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm nơi các ngươi mà được làm tại Tia và Xi-đôn, thì họ đã mặc áo vải thô, ngồi trên tro tỏ long hối cải từ lâu rồi” (10,13). Các phép lạ thường khơi dậy sự tò mò nhưng lại vô hiệu khi lòng người ra nặng nề đần độn..
Trở lại với dụ ngôn, hiện nay, ngày càng xảy ra chuyện thiên hạ tự hỏi hỏa ngục có không. Dĩ nhiên, nếu vội trả lời đâu có hỏa ngục... mà chẳng lưu ý rằng không ai có thể chứng minh sự phủ định xem ra nhẹ nhàng ấy. Dầu sao Đức Giê-su đã không nghĩ như vậy. Hãy thấy rằng đối với Người, hỏa ngục chỉ là sự nối dài cuộc sống trần gian: vẫn mãi xa cách Thiên Chúa, như người ta đã xa cách dưới thế này... vẫn mãi xa cách tha nhân, như người ta đã xa cách dưới thế này... Thành ra con người tự kết án chính mình. Xác nhận duy nhất, đó là khoảng cách mà người giàu đã đặt giữa mình với Thiên Chúa, giữa mình với tha nhân... trở nên dứt khoát, vĩnh viễn, quyết định. Vì Nước Thiên Chúa, cõi Thiên đường là hiệp thông tình yêu! Ông nhà giàu đã tự kết án chính mình: “cánh cổng” của ông, phân cách hai thế giới, nay đã trở nên cho ông một “vực thẳm.”
Tôi có xác tín rằng mình đang tạo nên thiên đường hay hỏa ngục cho mình chăng, mỗi khi tôi mở lòng cho Thiên Chúa và tha nhân... hay mỗi khi tôi khép chính lòng mình lại? Ai ở dưới thế không yêu thương, thì tự đặt mình ra khỏi bữa tiệc ấy của Thiên Chúa, nơi chỉ những ai thươnyêu g đi vào. (Xin nhớ lại hình ảnh hai cánh cổng tự chọn khi con người vừa bước vào cõi vĩnh cửu. Chúa nhật 21 Thường niên mới rồi).
Nếu trang Tin Mừng này quá mạnh mẽ, quá dữ dội, đó là vì hẳn cần một tiếng kèn trompét lớn lao để đánh thức kẻ sống trong sự mất cảm giác nặng nề. Thế mà nhiều người, đặc biệt hôm nay, vẫn sống trong một loại mất cảm giác thiêng liêng. Các giá trị đời đời đều vắng bóng nơi cuộc sống họ. “Người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin...”. Quả thực là như vậy. Người ta tiếp tục không tin Đức Giê-su, kẻ đã sống lại từ cõi chết, đến đánh thức chúng ta. Nhưng đó là một tin mừng đấy! Tôi có chấp nhận tin mừng này chăng: vì có trách nhiệm, có tự do... ngay từ hôm nay tôi đang tạo hỏa ngục vốn nhốt tôi trong chính mình hay tạo thiên đường vốn là thông hiệp và yêu thương...
Kết: Vậy qua phụng vụ hôm nay, chúng ta hãy trở về với tình yêu thương dành cho người nghèo, với mối hy vọng vào công lý của Thiên Chúa, với niềm tin tưởng ở Lời Người. Nhưng trên hết, chúng ta hãy tái khám phá ơn gọi Ki-tô hữu là sống từ bỏ, sống khó nghèo, sống quảng đại, sống hiến thân, một đòi hỏi mà thánh Lu-ca không ngớt lặp lại suốt Tin Mừng của ông. Nghĩa là đừng tạo ra một “cánh cổng” giữa ta với tha nhân ở đời này, kẻo nó trở thành một “vực thằm” giữa ta với Thiên Chúa, với Thiên đường đời sau. mục lục
Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
ĐỪNG SỐNG VÔ CẢM TRONG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI
Kính thưa anh chị em rất thân mến,
Có một bài hát rất quen thuộc của nhạc sĩ Anh Bằng mang tựa đề “Nó”. Trong đó có những lời ca thật não lòng:
"Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ
Tuổi ấu thơ đã mang nhiều âu lo
Ngày nó sống kiếp lang thang
Ngẩn ngơ như chim xa đàn
Nghĩ mình tủi thân muôn vàn.
Mẹ nó qua đời khi còn tấm nhỏ
Một chén cơm chiều nên lòng chưa no
Cuộc sống đói rách bơ vơ
Hỏi ai ai cho nương nhờ
Chuỗi ngày tăm tối bơ vơ.
Đêm đêm nó ngủ một manh chiếu rách co ro
Một thân côi cút không nhà
Thân em lá cỏ bạn thân ai có đâu xa
Thằng Tư con Tám lê la trên phố xa hoa..."
Khi đọc hoặc nghe bài hát ấy, ta thấy được thân phận bi đát của một cậu bé mồ côi, lang thang giữa phố phường, bị bỏ rơi giữa dòng đời nghiệt ngã. Và khi ấy, trong lòng ta dấy lên niềm thương cảm, nhưng đồng thời cũng thấy thấp thoáng bóng dáng biết bao phận đời hôm nay: những người bị bỏ rơi, bị quên lãng, bị khinh khi trong chính xã hội này.
1. Bi kịch trong gia đình
Thưa anh chị em,
Điều đáng sợ hơn là có những người bị bỏ rơi ngay trong chính gia đình của mình. Bi kịch ấy không chỉ là thiếu thốn vật chất, mà còn là thiếu sự quan tâm, yêu thương: vợ không quan tâm đến chồng, chồng không quan tâm đến vợ, cha mẹ không quan tâm tới con cái.
Nhạc sĩ Vũ Thành An có bài “Bài Không Tên Số 4”, kể về một người vợ khóc cạn nước mắt bên chồng mà vẫn đơn độc. Dù sống chung một mái nhà nhưng chẳng trao cho nhau hạnh phúc, chỉ gieo khổ đau cho nhau. Nỗi cô đơn ấy khiến người vợ phải thốt lên:
"Mai về sau nước mắt có cạn
Khi xa đời thương cho đàn con
Triệu người quen có mấy người thân
Khi lìa trần có mấy người đưa?"
Thật đáng sợ biết bao khi gia đình — nơi lẽ ra phải đầy ắp yêu thương — lại trở nên lạnh lẽo, vô cảm.
2. Lời mời gọi của Lời Chúa
Trong Tin Mừng, Đức Giêsu kể dụ ngôn về người phú hộ và anh Ladarô nghèo khổ (x. Lc 16,19-31). Người phú hộ sống trong nhung lụa nhưng lại vô cảm trước nỗi khổ của Ladarô nghèo khó trước cửa nhà mình.
Chúng ta hãy tự hỏi: Tôi là ai trong câu chuyện ấy? Là người phú hộ giàu có vô tâm, hay là Ladarô nghèo khổ tin tưởng vào Chúa?
Nếu ta được Chúa ban của cải, hãy tạ ơn Chúa, vì như Thánh vịnh dạy: “Nếu Đức Chúa không xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công.” (Tv 127,1)
Nhưng Lời Chúa cũng cảnh báo: “Hãy động lòng thương với kẻ nghèo khó, đừng trì hoãn khi bố thí cho họ. Hãy đón tiếp kẻ khốn cùng, đừng để họ ra về tay trắng.” (Hc 4,3-4)
Còn nếu ta là Ladarô nghèo khó, Đức Giêsu dạy: “Anh em đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc… Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.” (Mt 6,25.32-33)
3. Sống quan tâm và chia sẻ
Thưa anh chị em,
Gia đình chỉ hạnh phúc khi có sự quan tâm lẫn nhau: vợ chồng yêu thương, cha mẹ lo cho con cái, con cái hiếu thảo với cha mẹ. Nhiều người than phiền hôn nhân nhạt nhẽo vì thiếu lời động viên, lời cảm ơn, thiếu cả lời cầu nguyện chung trong gia đình.
Chúng ta hãy nhớ: Tình yêu chỉ sống khi biết cho đi, biết sẻ chia, biết quan tâm thực sự.
4. Thánh Thể – nguồn an ủi và sức mạnh
Đức Giêsu không bỏ mặc chúng ta trong cơn đói khát thiêng liêng. Ngài trao chính Thánh Thể Người làm lương thực ban sự sống đời đời. Người mời gọi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11,28)
Hãy chạy đến với Chúa trong Thánh Lễ, trong các giờ cầu nguyện, để tìm sức mạnh yêu thương và chia sẻ.
5. Lời nguyện
Lạy Chúa, xin cho chúng con tìm được nơi Thánh Thể nguồn an ủi và sức mạnh, để biết sống yêu thương, quan tâm và chia sẻ. Xin cho không ai trong gia đình, cộng đoàn và xã hội bị bỏ rơi hay lãng quên. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen. mục lục
Lm. Vinhsơn Nguyễn Minh Huấn
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.