SUY NIỆM CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG – C
HỌC HỎI PHÚC ÂM - Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
NIỀM VUI TRỞ VỀ - + ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên
VIỆC CẦN LÀM TRƯỚC THÊM NĂM THÁNH - Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
HY VỌNG VÀO THIÊN CHÚA, ĐẤNG ĐANG ĐẾN GIỮA DÂN NGÀI - Phêrô Phạm Văn Trung
HÃY ĐI TRÊN CON ĐƯỜNG CỦA CHÚA - Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
DỌN ĐƯỜNG ĐÓN CHÚA - Bông Hồng Nhỏ
DỌN ĐƯỜNG CHO ƠN CỨU ĐỘ PHỔ QUÁT - Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
TỪ HOANG ĐỊA, GỌI KHẮP MIỀN - Anna Têrêsa Thuỳ Linh
HỌC HỎI PHÚC ÂM (Lc 3,1-6)
CÂU HỎI TÌM HIỂU:
1. Đọc Lc 3,1-2. Hai câu này cho ta biết những chi tiết nào về lịch sử đạo và đời? Chúng có cần thiết không?
2. Đọc Lc 3,2. Tìm câu nào cho thấy ông Gioan, con ông Dacaria, là một ngôn sứ? Đọc Isaia 38,4; Giêrêmia 1,4; 13,3.
3. Để chuẩn bị cho biến cố ơn cứu độ của Thiên Chúa gần đến, ông Gioan Tẩy giả đã làm những gì, và đã mời dân Do-thái làm gì? Đọc Lc 3,3. Hãy mô tả phép rửa của ông Gioan ở sông Gio-đan.
4. Hối cải có cần thiết để được ơn tha tội không? Đọc Lc 24,47; Cv 3,19. Hối cải có phải là một ơn Chúa ban không hay do tự sức con người? Đọc Cv 5,31; 11,18.
5. Đọc Is 40,3-5. Khi thời lưu đày ở Babylon sắp kết thúc, ngôn sứ Isaia mời dân Do-thái làm gì để đón ĐỨC CHÚA trở lại? Đọc Lc 3,4-6. Ông Gioan mời gọi người ta làm gì để chuẩn bị đón Đức Chúa. Nên hiểu câu này theo nghĩa đen hay nghĩa bóng?
6. “Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa” (Lc 3,4). Ai là Đức Chúa mà ông Gioan muốn dọn đường? Đọc Lc 1,43; 2,11.
7. Đọc Lc 3,6. Ơn cứu độ của Thiên Chúa dành cho ai? Dân ngoại có được hưởng ơn này không? Đọc Lc 2,30-32.
8. Tại sao Giáo hội cho chúng ta đọc bài Tin Mừng này vào Mùa Vọng?
CÂU HỎI SUY NIỆM:
Dám hối cải và dám mời gọi mọi người hối cải, đó là điều ông Gioan Tẩy Giả đã làm. Để làm được như thế cần nhiều can đảm. Giáo Hội chúng ta hôm nay, có cần những Gioan như thế không?
PHẦN TRẢ LỜI:
1. Tin Mừng Luca 3,1-2 cho ta biết bối cảnh lịch sử, về cả đời lẫn đạo, của biến cố ông Gioan Tẩy giả xuất hiện trong hoang địa. Luca 3,1 nói đến năm thứ mười lăm triều hoàng đế Rôma là Ti-bê-ri-ô (Tiberius), ông này làm hoàng đế (xê-da) từ 14-37 sau Công nguyên. Luca 3,1 cũng nói đến Phongxiô Philatô là người cai trị vùng Giu-đê (26-36 sau CN). Sau đó kể tên ba người con của vua Hêrôđê Cả là Hêrôđê, Philípphê và Lysania, mỗi ông là tiểu vương của một vùng. Đặc biệt có ông Hêrôđê làm tiểu vương cai trị vùng Ga-li-lê (Lc 9,7-9). Về mặt tôn giáo, Luca 3,2 nói đến tên hai vị thượng tế của Do-thái giáo là Kha-nan (làm thượng tế năm 16-18 sau CN) và Cai-pha (làm thượng tế năm 18-36 sau CN). Những chi tiết lịch sử cả đời lẫn đạo trên đây khá cần thiết vì giúp chúng ta biết bối cảnh lịch sử của thời kỳ Gioan làm phép rửa ở sông Giođan. Hơn nữa, Luca 3,1-2 còn cho thấy tất cả những biến cố xảy ra sau đó, nhất là biến cố Đức Giêsu xuất hiện, đều là biến cố có tính lịch sử. Đây không phải là huyền thoại hay truyền thuyết.
2. “Có lời Thiên Chúa phán cùng…” là một lối nói ta thường gặp trong các sách Ngôn sứ để diễn tả việc Thiên Chúa kêu gọi (x. Is 38,4; Gr 1,4; 13,3). Luca 3,2b dùng lối nói trong Cựu Ước để cho thấy ông Gioan được Thiên Chúa kêu gọi làm ngôn sứ cho Ngài. Thiên Chúa đã phán Lời của Ngài cho ông Gioan nơi hoang địa, để ông nói lại Lời đó cho dân: đó là sứ mạng chủ yếu của một vị ngôn sứ.
3. Ông Gioan được Thiên Chúa cho biết ơn cứu độ mọi người chờ mong đã đến rồi. Bởi đó ông đã đi khắp vùng ven sông Giođan, mời người ta đến với ông để lãnh nhận phép rửa. Phép rửa này nhằm bày tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội (Lc 3,3). Gioan ban phép rửa bằng cách dìm toàn thân người chịu phép rửa xuống dòng nước sông Gio-đan.
4. Đối với Đức Giêsu, hối cải là đóng góp của con người, là điều cần thiết để được ban ơn tha tội. Chúa phục sinh đòi các môn đệ phải rao giảng cho mọi dân tộc sự hối cải để được tha tội (x. Lc 24,47; Cv 3,19). Hối cải (metanoia) là chủ đề được Luca nhấn mạnh, đi liền với tha thứ (Lc 5,32; 15,7.10; 17,3-4). Nhưng hối cải cũng là một ơn Chúa ban (x. Cv 5,31; 11,18).
5. Khi thời lưu đày ở Ba-by-lon sắp kết thúc (khoảng năm 538 trước CN), ngôn sứ Isaia, - được coi là Isaia đệ nhị, sống ở thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, - kêu gọi người ta làm một con đường băng qua sa mạc, để ĐỨC CHÚA dẫn đưa những người Do-thái bị lưu đầy ở Babylon trở về Giêrusalem. Để làm con đường này, cần nắn chỗ những quanh co cho thẳng, lấp đầy các thung lũng sâu, bạt xuống cho thấp những đồi núi (Is 40,3-5). Ông Gioan Tẩy giả đã muốn dùng lời mời trên đây của ngôn sứ Isaia để kêu gọi dân Israel chuẩn bị cho ơn cứu độ đang đến. Chắc hẳn cả ngôn sứ Isaia và ông Gioan đều không có ý mời dân Do-thái làm một con đường vật chất, nhưng làm một con đường tinh thần trong lòng mình để Chúa có thể đi. Để hoàn thành con đường ấy, cần sống ngay thẳng, không quanh co, cần san bằng những cao ngạo kiêu căng và lấp đầy những hố sâu chia rẽ. Tóm lại là cần hối cải, cần thay đổi cuộc sống.
6. Ngôn sứ Isaia mời người ta dọn đường cho ĐỨC CHÚA (Is 40,3). ĐỨC CHÚA ở đây là GIA-VÊ, Đấng ba lần thánh. Còn khi ông Gioan Tẩy giả mời người ta dọn đường cho Đức Chúa (kyrios), thì Đức Chúa ở đây chính là Đức Giêsu (Lc 3,4). Trong Tin Mừng Luca, Đức Giêsu được gọi là Đức Chúa (kyrios). Bởi đó Đức Maria được gọi là Thân Mẫu của Đức Chúa (Lc 1,43), và vị thiên sứ hiện ra cho các người chăn chiên cũng gọi Hài Nhi Giêsu là Đức Chúa (Lc 2,11).
7. Lời tiên tri của ngôn sứ Isaia cho thấy “hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (Lc 3,6; Is 40,5). Như thế ơn cứu độ của Thiên Chúa do Đức Giêsu đem lại không chỉ giới hạn cho dân Do-thái mà thôi, nhưng cho mọi người, kể cả cho dân ngoại là chính chúng ta. Điều này đã được ngôn sứ Si-mê- ôn nói lên trong lời cầu nguyện khi ông bồng ẵm Hài Nhi Giê su trên tay: “…ơn cứu độ Chúa đã bày ra trước mặt muôn dân: đó là ánh sáng mặc khải cho dân ngoại…” (Lc 2,30-32).
8. Giáo Hội cho chúng ta đọc bài Tin Mừng này trong Mùa Vọng vì Mùa Vọng là thời gian trông đợi Chúa đến. Vào thời ông Gioan (cũng là thời của Đức Giêsu), người Do-thái khao khát ngóng đợi Đấng Mêsia đến để cứu độ dân tộc họ, đem lại độc lập, bình an, thịnh vượng. Vào Mùa Vọng hôm nay, chúng ta cũng muốn sống lại niềm khao khát ấy của dân Do-thái. Tuy nhiên, chúng ta không chỉ kỷ niệm việc Đức Giêsu là Đấng Mêsia đã đến cách đây hơn 2000 năm, mà còn tha thiết mong chờ Chúa Giêsu đến lần thứ hai để cứu độ cách trọn vẹn toàn thể nhân loại và vũ trụ. mục lục
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
Sắc áo tím của Phụng vụ mùa Chay có thể làm nhiều người hiểu mùa Vọng là thời gian khổ chế. Ngược lại, mùa Vọng là mùa của niềm vui. Niềm vui vì Chúa sắp đến. Niềm vui vì ta được trở về với Ngài.
Mặc dù xuất phát ở những bối cảnh khác nhau, các Bài đọc Kinh Thánh đều diễn tả niềm vui. Trước hết đó là niềm vui mà ngôn sứ Ba-rúc đã loan báo. Ông kêu gọi dân cư Giê-ru-sa-lem hãy cởi bỏ tang chế, và mặc lấy ánh vinh quang vĩnh cửu. Các chuyên viên Kinh Thánh đều kết luận sách ngôn sứ Ba-rúc được viết vào khoảng từ năm 582-550, tức là vào cuối thời lưu đày của người Do Thái tại Ba-bi-lon. Giống như ngôn sứ I-sai-a, ngôn sứ Ba-rúc loan báo ngày Thiên Chúa sẽ giải phóng dân Ngài. Ngài sẽ dẫn đưa họ về quê cha đất tổ. Đất nước của họ sẽ trở lại tươi sáng như xưa. Giê-ru-sa-lem sẽ sầm uất kẻ đến người đi. Đô thành Hòa Bình này sẽ phủ bóng rừng xanh với muôn loài sản vật.
Niềm vui ngôn sứ Ba-rúc loan báo đã được thực hiện vào năm 539. Vua Ky-rô, người Ba Tư đã ký sắc lệnh cho người Do Thái hồi hương. Họ tin Ky-rô là người Thiên Chúa sai đến giải phóng dân Ngài. Thánh vịnh 125 được đọc trong phần Đáp ca diễn tả niềm vui vỡ òa của dân tộc. Bao năm tha hương, nay họ trở về quê cha đất tổ. Nhiều người tưởng chừng như đang ngủ mơ.
Thiên Chúa luôn dẫn chúng ta trên con đường trở về với Ngài. Sám hối canh tân chính là điều kiện cần thiết để chúng ta tìm được niềm vui trong cuộc sống cũng như trong tâm hồn. Ông Gio-an Tẩy giả xuất hiện từ hoang địa. Ông là một sứ giả đến loan báo niềm vui mà dân Do Thái bao đời mong đợi: Đấng Thiên sai sắp đến. Sống cách thời điểm này quá xa về thời gian và không gian, chúng ta không cảm nhận được niềm vui của người Do Thái trước lời loan báo Đấng Thiên sai sắp đến. Về bối cảnh xã hội, lúc đó dân đang bị ách Rô-ma cai trị. Về khía cạnh tôn giáo, lời cầu nguyện xin Chúa gửi Đấng Thiên sai luôn luôn vang vọng trong các buổi đọc Kinh Thánh. Vì thế, dân chúng đông đảo đến nghe ông Gio-an rao giảng, và sẵn sàng cúi mình xuống để xin ông làm phép rửa trong dòng sông Gio-đan.
Người Ki-tô hữu cần cảm nhận được niềm vui trong đức tin. Chúng ta vui vì có Chúa đang ở với chúng ta. Đức Ki-tô đã hứa với các môn đệ: “Này đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Vì vậy, lời loan báo của ngôn sứ Ba-rúc và thánh Gio-an Tẩy giả vẫn luôn mang tính thời sự đối với chúng ta. Chúa Giê-su đã đến trong lịch sử, cách đây hơn hai ngàn năm. Hiện tại, Người hiện diện giữa chúng ta một cách huyền nhiệm linh thiêng. Vào cuối cùng của thời gian, Người sẽ đến trong vinh quang “để phán xét kẻ sống và kẻ chết” như chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin kính. Ki-tô hữu là người luôn tỉnh thức và đợi chờ biến cố Chúa Giê-su tái lâm, tức là đến lần thứ hai trong vinh quang. Người vừa hiện diện giữa chúng ta, vừa dường như vắng bóng trong cuộc đời. Bởi lẽ sự hiện diện của Chúa là linh thiêng và huyền nhiệm.
“Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng phải lấp cho đầu; mọi núi đồi phải bạt cho thấp; khúc quanh co phải uốn cho ngay; đường lồi lõm phải san cho phẳng”. Những gì ông Gio-an Tẩy giả khuyên người Do Thái năm xưa, vẫn đang giúp chúng ta nhìn lại bản thân để xét mình trước mặt Chúa. Trong nội tâm chúng ta, vẫn còn đó những đồi cao của kiêu ngạo; thung lũng của yếu đuối; quanh co của mưu đồ. Để đón Chúa đến trong tâm hồn, cần phải sám hối canh tân và buông bỏ những gì là bất xứng.
Niềm vui xuất phát từ tình yêu mến. Đó là điều thánh Phao-lô đã cảm nhận, như ông tâm sự với giáo dân thành Phi-líp-phê. Những tín hữu của cộng đoàn này yêu mến ông Phao-lô và điều đó, tạo cho ông niềm vui thân thương. Ông cũng yêu mến họ và vui sướng mỗi khi cầu nguyện cho họ. Ông đã viết: “Có Thiên Chúa làm chứng cho tôi: tôi hết lòng yêu quý anh em tất cả, với tình yêu thương của Đức Ki-tô Giê-su. Điều tôi khẩn khoản nài xin là cho lòng mến của anh em ngày càng thêm dồi dào… để nhận ra cái gì là tốt hơn”. Theo thánh Phao-lô, khi sống với nhau bằng tình yêu mến, chúng ta sẽ tiến xa trong sự hiểu biết Thiên Chúa và hiểu biết nhau. Như vậy, chúng ta sẽ dễ dàng đón nhận ý Chúa và cùng nhau xây dựng một thế giới an bình.
Niềm vui của mùa Vọng là niềm vui trở về. Như dân Do Thái hồi hương sau những năm dài sống nơi lưu đày, chúng ta được trở về với Chúa, để được gặp Ngài và nhờ đó được tiến triển trong tình yêu mến Chúa và yêu mến tha nhân. mục lục
+ ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên
VIỆC CẦN LÀM TRƯỚC THÊM NĂM THÁNH
Bước vào Chúa Nhật II Mùa Vọng, mùa của niềm vui thiêng thánh đậm nét đợi chờ trong niềm hy vọng chứa chan, rằng Chúa Giêsu, sinh bởi Ðức Trinh Mữ Maria, sẽ trở lại trong vinh quang. Nhưng để sự đợi chờ của chúng ta không uổng công vô ích, chúng ta phải hoán cải.
Năm Thánh 2025 tới đây sẽ là Năm Thánh thường lệ thứ 27 trong lịch sử Giáo hội. Các chủ đề của năm này bao gồm: liên đới, hy vọng, công bằng, dấn thân phụng sự Chúa với niềm vui và bình an với anh chị em của chúng ta.
“Niềm hy vọng” như là nội dung chính yếu và xuyên suốt Năm Thánh 2025. Theo đó, Năm Thánh khơi dậy niềm hy vọng trong một thế giới bị xâu xé bởi chia rẽ, chiến tranh, bất bao dung, xung đột, xáo trộn và khủng hoảng, nhất là trong đời sống gia đình.
Thật ý nghĩa khi Năm Thánh thường niên 2025 đang mở ra. Đây là thời gian mà người tội lỗi hoán cải. Hoán cải là việc cần làm trước thềm Năm Thánh. Để được ban ơn tha thứ các hình phạt do tội gây ra, con người phải thống hối và canh tân cũng như hòa giải với Thiên Chúa và anh chị em. Ðể được hưởng những ơn lành Thiên Chúa ban cho trong Năm Thánh này, Kitô hữu phải nhận thức: trước hết, Năm Thánh là nhằm thánh hóa cuộc sống, củng cố đức tin, tạo cơ hội thuận tiện để xây dựng tình liên đới và hiệp thông huynh đệ trong lòng Giáo hội và thế giới, tuyên xưng đức tin một cách chân thành và sống động hơn nơi Ðức Kitô, Ðấng Cứu Ðộ duy nhất của nhân loại.
Phụng vụ Lời Chúa đề nghị chúng ta gẫm suy về Gioan Tẩy Giả, Vị Tiền Hô của Chúa Cứu Thế và nghe lời ông khẩn trương “dọn đường Chúa” (Lc 3,4). Đồng thời mau mắn bước vào Năm Thánh.
Gioan Tẩy Giả được gọi làm Tiền Hô cho Đấng Mêsia ngay từ khi còn ở trong lòng mẹ. Việc loan báo việc ông sinh ra đã khiến nhiều người phải ngạc nhiên: Dacaria cha Gioan đã bị câm vì đã không tin lời của sứ thần truyền. “Láng giếng ai nấy đều kinh sợ. Và các sự việc ấy được đồn ra khắp miền núi Giuđa” (Lc 1, 65).
Gioan Tẩy Giả ông lui vào trong hoang địa, ăn châu chấu, uống mật ong rừng, mặc áo lông lạc đà, chuyên tâm cầu nguyện, hãm mình và sám hối để thực thi sứ mạng Tiền Hô sau này. Hoang địa tượng trưng cho sự từ bỏ hoàn toàn, là nơi con người không thấy gì khác ngoài sự yếu hèn, nhỏ bé, giới hạn, bất lực của mình trước sự cao cả của Đấng Tạo Hóa. Chính trong hoang địa mà Gioan Tẩy Giả nâng hồn lên tới Chúa và sống hiệp thông mật thiết với Ngài để kín múc lấy sức mạnh cho sứ mạng tương lai, kêu gọi người ta hoán cải và khẩn trương dọn đường cho Chúa.
Dọn đường Chúa
Nếu Gioan Tẩy Giả là tiếng kêu trong hoang địa. Vậy ông kêu gì? “Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng, hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi; con đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, con đường gồ ghề hãy san cho bằng” (Lc 3, 4-5). Tiếng kêu của Gioan đối với chúng ta vẫn còn rất cấp bách. Chúng ta còn được mời gọi san phẳng đường lối cho Chúa, nghĩa là dẹp tan lòng kiêu ngạo, chia rẽ, hận thù, bất hòa, giận dữ trong chúng ta; xóa bỏ ranh giới còn tồn tại trong não trạng của nhiều người về thua được, hơn thiệt; thanh luyện tâm hồn; sống tình bác ái, huynh đệ và liên đới; khước từ Satan, tội lỗi và tất cả những gì cản đường Chúa đến với chúng ta, cản trở ta đến với tha nhân (1 Cr 7,34).
Hoán cải thật là cần thiết để chúng ta khôi phục mối tương quan thân tình với Thiên Chúa, tìm thấy sự tha thứ cho tội lỗi, được chữa lành linh hồn, và mở ra tương lai hiệp thông với Thiên Chúa trong lòng Giáo hội.
Sống hy vọng
Hơn bao giờ hết, chúng ta ngày hôm nay được mời gọi trở nên người loan báo Chúa Kitô bằng lời nói và đời sống, làm chứng cho một Chúa Kitô tốt lành, khiêm nhường, nghèo khó và nhân từ; một Chúa Kitô đã yêu thương thế gian đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cậy thập giá; một Chúa Kitô nhập thể làm người, giống chúng ta mọi đàng ngoại trừ tội lỗi; một Chúa Kitô đã yêu nhân loại đến chết vì yêu.
Năm Thánh 2025 đánh dấu một năm tha tội và hình phạt do tội gây ra, một năm hòa giải giữa những người đối lập nhau, một năm hoán cải và lãnh nhận Bí tích Hòa giải. Trước ngưỡng cửa của Năm Thánh, chúng ta “Những người hành hương hy vọng” sẽ bước qua “cửa hy vọng” vì Thiên Chúa, Đấng luôn sẵn sàng “chờ đón” để tha thứ cho mọi tội của từng người trong mọi thời đại.
Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, luôn kiên nhẫn chờ đợi, sẵn sàng tha thứ, dù con người sống trong tăm tối của bất toàn và yếu đuối đến mấy cũng được mời gọi bước qua để vào miền ánh sáng ân sủng thần thiêng của Cha trên Trời.
Ước mong sao, mọi người đều cảm nghiệm được Thiên Chúa yêu thương, luôn tha thứ và ban ơn cứu độ cho hết mọi người. Chúng ta hy vọng và vững tin vào Chúa. mục lục
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
HY VỌNG VÀO THIÊN CHÚA, ĐẤNG ĐANG ĐẾN GIỮA DÂN NGÀI
Chúng ta đang sống trong một thế giới bị ảnh hưởng tiêu cực từ các loại khủng hoảng khác nhau về kinh tế, xã hội, văn hóa. Vẫn còn rất nhiều người rơi vào những hoàn cảnh tưởng chừng như vô vọng. Cá nhân mỗi người cũng có những nỗi niềm băn khoăn, phiền muộn, lo lắng, ưu tư của riêng mình. Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi chúng ta mở lòng đón nhận năm thương xót 2025, với chủ đề: “Những người hành hương của Hy Vọng”. Sắc chỉ khởi đầu bằng cụm từ “Spes non confundit, Hy vọng không làm thất vọng.” Đó là lời mời gọi mỗi người, dù cuộc sống còn lắm thử thách, vẫn giữ vững niềm tin tưởng và hy vọng. Đức Thánh Cha Phanxicô chọn chủ đề này là để khơi dậy niềm hy vọng trong một thế giới bị xâu xé bởi chia rẽ, chiến tranh, bất bao dung, xung đột, xáo trộn và khủng hoảng, nhất là trong đời sống gia đình.
1. Giữ vững sự tin tưởng và niềm hy vọng của chúng ta.
Trong bối cảnh xã hội đầy bất ổn như vậy, một trong những nguồn quan trọng để Kitô hữu có thể cảm nghiệm và lãnh nhận niềm hy vọng một cách rõ ràng và chân thực nhất là tình thương của Thiên Chúa. Tình thương này làm nảy sinh niềm vui, làm cho tâm hồn chúng ta được mở ra để đón nhận niềm hy vọng về một cuộc sống mới trong Thiên Chúa. Bài đọc thứ nhất hôm nay nhắc chúng ta rằng, như dân Israel xưa, chúng ta cũng đang “bị quân thù áp giải”, phải rời bỏ đền thánh Giêrusalem, nơi Thiên Chúa ngự giữa dân Ngài, “không xe không ngựa” (Barúc 5:6), “bị vua nước Babylon phát lưu” (Barúc 5:9) khắp tứ phương thiên hạ. Vào thế kỷ thứ hai trước Chúa Giáng Sinh, khi ngôn sứ Barúc viết đoạn văn này, sự cám dỗ tuyệt vọng rất lớn: liệu một ngày nào đó tất cả những lời hứa tốt đẹp của Thiên Chúa, vốn được các tiên tri của Ngài lặp lại không mệt mỏi, có được ứng nghiệm không? Ngược lại, “Ngày của Thiên Chúa” theo cách nói nổi tiếng của ngôn sứ Giêrêmia (3: 17-18), thời của Giao ước mới, thời của triều đại Thiên Chúa, “Triều đại Ngài, đua nở hoa công lý và thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn” (Tv 72: 7), dường như đang mỗi ngày mỗi xa hơn. Để tiếp thêm sinh lực cho những người cùng thời, ngôn sứ Barúc sử dụng những lời tiên tri hy vọng lớn lao từ sách Isaia. Đây là sự tuyên xưng niềm tin vào sự hữu hiệu và xác thực của những lời hứa, bắt đầu bằng những lời hứa trở về quê hương: để thông báo rằng những người Do Thái bị Nabucôđônôxo đày sang Babylon sẽ sớm được trả tự do, và sẽ lên đường trở về. Sa mạc ngăn cách Giêrusalem với Babylon sẽ trở thành một con đường cao tốc thực sự: “Vì Thiên Chúa đã ra lệnh phải bạt thấp núi cao và gò nổng có tự lâu đời, phải lấp đầy thung lũng cho mặt đất phẳng phiu, để Israel tiến bước an toàn dưới ánh vinh quang của Thiên Chúa Thiên Chúa” (Barúc 5: 7). Theo lý thuyết thì trong sa mạc không có cỏ cây. Để loan báo sự trở lại, như một phép lạ của Thiên Chúa, ngôn sứ Barúc nói: “Theo lệnh của Thiên Chúa, rừng xanh và đủ loại quế trầm sẽ toả bóng che rợp Israel, vì Thiên Chúa sẽ dẫn Israel đi trong hoan lạc, dưới ánh sáng vinh quang của Chúa, cùng với lòng từ bi và sự công chính của Ngài” (Barúc 5:8-9). Về vinh quang tương lai của Giêrusalem, Barúc nhắc lại cho những người đương thời với ông: “Hỡi Giêrusalem, hãy cởi bỏ áo tang khổ nhục, và mặc lấy ánh vinh quang vĩnh cửu Thiên Chúa ban cho ngươi; hãy khoác vào mình áo choàng công chính của Thiên Chúa; và đội lên đầu triều thiên vinh quang Đấng Vĩnh Hằng ban tặng. Vì Thiên Chúa sẽ cho khắp cả hoàn cầu thấy hào quang rực rỡ của ngươi” (Barúc 5: 1-4). Chúng ta chính là những người mang ánh hào quang của Thiên Chúa: “Hãy đứng ở nơi cao, và hướng nhìn về phía đông: Kìa xem con cái ngươi từ đông sang tây tụ họp về theo lời Đấng Thánh đã truyền dạy. Được Thiên Chúa nhớ đến, chúng hớn hở mừng vui. Xưa chúng bị quân thù áp giải, phải rời ngươi, không xe không ngựa. Nay Thiên Chúa lại đưa chúng trở về với ngươi, chúng được kiệu đi vinh quang rực rỡ, khác chi một ngai vàng” (Barúc 5: 5-6).
Chúng ta phải dành thời gian để suy ngẫm về những lời nói đáng kinh ngạc này nếu chúng ta thực sự muốn “khoác vào mình áo choàng công chính của Thiên Chúa; và đội lên đầu triều thiên vinh quang Đấng Vĩnh Hằng ban tặng” (Barúc 5:2). Rõ ràng, chúng ta có thể đặt câu hỏi: nếu sách của ngôn sứ Barúc (538 trước Công nguyên) muộn hơn sách của Isaia rất nhiều (742 trước Công nguyên), tại sao vị ngôn sứ lại tiếp tục tất cả những lời hứa này? Cuộc lưu đày sang Babylon đã kết thúc từ lâu rồi, không còn lời hứa nào cho những người bị lưu đày của thế kỷ thứ sáu nữa. Vậy thì vị ngôn sứ lấy những lời của các nhà tiên tri trong quá khứ để phục vụ ai? Trên thực tế, những “người lưu vong” mà vị ngôn sứ nói đến là những người Do Thái còn sinh sống trong những cộng đồng Do Thái khắp thế giới Hy Lạp-La Mã, và những người này cảm thấy như thể họ bị lưu đày khỏi Giêrusalem. Vị ngôn sứ biết rõ rằng, bất chấp những thăng trầm của lịch sử, dự án của Thiên Chúa dành cho Giêrusalem và cho toàn thể nhân loại sẽ được thực hiện. Do đó, giống như Isaia trong thời kỳ chán nản và u ám trước đây, ngôn sứ Barúc công bố những lời hứa cứu độ của Thiên Chúa, rao giảng niềm hy vọng vào “lòng từ bi và sự công chính của Ngài” (Barúc 5:9). Đây là một bài học đẹp về đức tin và hy vọng cho chúng ta: tất cả những bi kịch của thời đại chúng ta, bất kể là gì, không được làm suy yếu sự tin tưởng và niềm hy vọng của chúng ta. Trái lại, cần phải tăng cường niềm tin tưởng và hy vọng ấy nhiều hơn nữa.
2. Nhân chứng của Hy vọng: Sống và Phục vụ cùng Chúa.
Sự táo bạo của những người đang sống trong những thăng trầm của lịch sử là tin tưởng rằng “Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (Lc 3: 6). Và Thánh Luca đã không hiểu sai điều đó. Khi nghe đoạn Tin Mừng hôm nay của ngài, chúng ta nhận thấy một kiểu đối lập bất thường giữa một người đơn độc và những nhân vật nắm quyền lực: “Năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Tibêriô, thời Phongxiô Philatô làm tổng trấn miền Giuđê, Hêrôđê làm tiểu vương miền Galilê, người em là Philípphê làm tiểu vương miền Iturê và Trakhônít, Lyxania làm tiểu vương miền Abilên, Khanan và Caipha làm thượng tế, có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Dacaria là ông Gioan trong hoang địa” (Lc 3:1-2). Qua Gioan Tẩy Giả, sự đối lập của “một đoàn dân đang trông ngóng Đấng Cứu Thế - Mêsia” (Lc 3;15) với Đế chế của những người nắm quyền lực trần gian đã bắt đầu. Điều không thể luôn là có thể. Điều không thể tưởng tượng được nay có thể diễn ra khi lắng nghe Lời của Thiên Chúa, một Lời đang đến, như ngôn sứ Isaia kêu gọi mà Thánh Luca trích dẫn: “Hãy dọn sẵn con đường cho Chúa, sửa lối cho thẳng để Ngài đi” (Lc 3: 4). Một điều gì đó sống động đang đến, đang cần được bắc nhịp cầu. Bởi vì Gioan không ở đó để thực hiện và hoàn thành nhưng để chuẩn bị cho điều đang đến. Gioan Tẩy Giả “liền đi khắp vùng ven sông Giođan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (Lc 3:3). Ông kêu gọi sám hối, làm nảy sinh những hoa trái của sám hối, và đừng chần chờ nữa: “Các anh hãy sinh những hoa quả xứng với lòng sám hối. Và đừng vội nghĩ bụng rằng: Chúng ta đã có tổ phụ Abraham; vì, tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Abraham. Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa” (Lc 3: 8-9). Một Đấng Khác sẽ thực hiện và hoàn thành điều đang đến. Và chúng ta, những người đang sống hơn 2000 năm sau, biết rằng chính Chúa Giêsu sẽ thực hiện những gì Gioan Tẩy Giả đã chuẩn bị trước: “Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng” (Lc 5:5). Chúa Giêsu sẽ tiếp tục sứ vụ cứu độ của Ngài khi Gioan bị Hêrôđê bắt và bị giết. Chúa Giêsu đã hoàn tất sứ vụ cứu độ của Ngài nơi chính con người của Ngài, nhưng vương quyền cứu độ của Chúa Giêsu chưa trọn vẹn nơi lịch sử nhân loại và nơi lịch sử của mỗi người chúng ta.
Giờ đây trong thế giới của những nhân vật nắm quyền lực như Trump, Putin, và nhiều kiểu “vua chúa trần gian” khác... Chúa Giêsu đến nói chuyện với chúng ta, ngay trong trái tim “hoang địa” của chúng ta, vốn quá bận bịu và quá dính bén với thế giới mà họ thống trị, không còn bao nhiêu tin tưởng và hy vọng vào Đấng đã đến và còn đang đến mỗi ngày. Chúng ta hiểu mọi núi đồi kiêu hãnh, tham lam mà chúng ta đã lựa chọn khiến cuộc sống của chúng ta trở nên căng thẳng. Vì thế “Mọi núi đồi, phải bạt cho thấp” (Lc 5:5): phải có một cuộc sống giản dị hơn, thức tỉnh hơn, ít tranh giành hơn, ít thể hiện hay phô trương cái tôi hơn. “Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy” (Lc 3:5): phải lấp đầy sự thiếu sót trong tương quan giữa những người láng giềng, giữa những gì chúng ta nói và những gì chúng ta làm. Sự thiếu sót này đôi khi là một vực thẳm. Chúng ta cần xây dựng từng cộng đoàn xã hội khác đi, đoàn kết hơn và biết quan tâm đến nhau nhiều hơn, huynh đệ hơn và chân thật hơn. “Khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng” (Lc 3:5): phải xây dựng một cõi lòng không còn quanh co, gian trá, đầy mưu chước gập ghềnh, nhưng công bằng hơn, ngay thẳng hơn. Đây là những điều chúng ta nghe thấy, nhưng bưng tai và bịt mắt lương tâm, hoặc những điều đã bị dìm chết trong cõi lòng sâu thẳm của chúng ta bởi sự thiếu đức tin, thiếu cách sống chứng nhân Tin Mừng cụ thể.
Đức Gioan Phaolô II đã nói trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 1995: “Tôi đến trước mặt anh chị em như một chứng nhân: một chứng nhân cho phẩm giá con người, một chứng nhân cho hy vọng, một chứng nhân cho niềm tin rằng vận mệnh của mọi quốc gia nằm trong tay của một Đấng Quan Phòng thương xót”. Ngài nói tiếp: “Bây giờ là thời điểm cho niềm hy vọng mới, kêu gọi chúng ta loại bỏ gánh nặng tê liệt của chủ nghĩa hoài nghi khỏi tương lai chính trị và cuộc sống con người… Chúng ta phải học cách không sợ hãi, chúng ta phải tìm lại tinh thần hy vọng và tinh thần tin tưởng. Hy vọng không phải là sự lạc quan trống rỗng xuất phát từ sự tin tưởng ngây thơ rằng tương lai nhất thiết sẽ tốt đẹp hơn quá khứ. Hy vọng và tin tưởng là tiền đề của hoạt động có trách nhiệm và được nuôi dưỡng trong lương tâm con người, nơi “con người ở một mình với Chúa” và do đó nhận ra rằng mình không đơn độc giữa những nhiệm mầu của sự sống, vì con người được bao quanh bởi tình yêu thương xót của Đấng Tạo hóa!”
Nếu Thiên Chúa đang hành động, nếu tình yêu của Ngài đang dần dần tạo nên hình dạng “con người mới” thì thế giới không thể kết thúc trong thất bại, hoang tàn hay bế tắc. Như Thánh Phaolô nói trong bài đọc thứ hai, chúng ta tin chắc rằng: “Đấng đã bắt đầu thực hiện nơi anh em một công việc tốt lành như thế, cũng sẽ đưa công việc đó tới chỗ hoàn thành cho đến ngày Chúa Kitô Giêsu quang lâm” (Pl 1:6). mục lục
Phêrô Phạm Văn Trung
HÃY ĐI TRÊN CON ĐƯỜNG CỦA CHÚA
Để bắt đầu bài suy niệm tuần này, xin chia sẻ đến quí vị một sự kiện. Số là, vào một buổi học Giáo Lý trong Mùa Vọng, lúc thầy giúp xứ đang giải thích về ý nghĩa của Mầu Nhiệm Nhập Thể, thì có một anh Giáo lý viên đã hỏi:
“Thưa Thầy, giả như Đức Giêsu không nhập thể, không chết và không sống lại thì Thiên Chúa có đường lối nào khác để bộc lộ và ban ơn cứu độ cho con người hay không? Vẫn biết câu hỏi chỉ là một sự giả định, nhưng nội dung của câu hỏi cũng khiến cho chúng ta cần suy nghĩ. Với quyền năng vô biên của Thiên Chúa thì Ngài làm gì chẳng được, nhất là làm sao Ngài có thể từ chối việc ban ân huệ và chuộc tội cho chúng ta!
Nhưng thực hiện kỳ công như thế mà không cho chúng ta thấy hay cảm nhận được thì nào có ích gì! Do đó, việc mang lấy thân phận con người là một việc cần thiết. Đã là người thì cần có cha có mẹ, anh em họ hàng, bà con láng giềng… Tất cả các điều đó nói lên lịch sử tính của người đó.
Việc Thiên Chúa can thiệp được thể hiện trong lòng người và giữa dòng đời. Đức Giê-su là một nhận vật lịch sử.
Ngay cả sử gia người Do Thái Josephus đã phải ghi nhận về sự xuất hiện của Người. Nhưng còn hơn thế nữa, công trình cứu độ và giải thoát ấy được Thiên Chúa ra tay hiện thực và trao ban cho dân Người, với sự cộng tác của mọi loài, mọi vật, y như trong biến cố xuất hành đưa dân Chúa giải thoát khỏi Ai Cập.Ngài đã ra tay gạt bỏ mọi chướng ngại, khó khăn để hoàn thành ý định Ngài.
Trong cùng một ý tưởng đó, bài Tin Mừng hôm nay giới thiệu và trình bầy cho chúng ta biết về sứ mạng của Gio-an Tẩy Giả. Ông đã xuất hiện trong lịch sử. Ông được kêu gọi và thực hiện sứ mạng ngay trong môi trường sinh sống của ông. Ơn gọi và sự trưởng thành trong sứ mạng của ông đưọc xuất phát nơi ông sinh ra và lớn lên. Ngày hôm nay, những người theo truyền thống Kitô giáo xưng tụng ông là Thánh nhân.
Từ nguyên thuỷ, ông là người Do Thái, là ngôn sứ, thuộc dòng giống Hebrew chính hiệu. Sứ mạng của ông là tiền thân của Đấng Cứu Thế. Lời của ngôn sứ I-sa-i-a đã ứng nghiệm trên sứ mạng của ông là “hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi”.
Và bối cảnh mà Gio-an nhận sứ mạng là hoang địa. Hoang địa hay sa mạc là nơi mà dân Do Thái đã trải qua các cuộc thử thách. Chính tại nơi đó họ cảm nhận đuợc tình thương của Thiên Chúa hơn bao giờ hết. Áp dụng vào hoàn cảnh và cuộc sống của chúng ta, tôi nhận ra một điều.
Đó là, thưa anh chị em, chỉ ở trong hoang địa chúng ta mới được hạnh phúc nhìn thấy Thiên Chúa. Tức là ở những nơi chúng ta trút bỏ hoàn toàn các mặt nạ của mình, trút bỏ kiêu ngạo, lo lắng, phân tán để lắng nghe Lời Chúa. Nếu chúng ta còn đeo những mặt nạ nói trên thì không thể có cơ hội nhìn thấy Người. Và đây là bài học thứ nhất: Hãy trút bỏ mặt nạ, sống thật với chính mình, không giả hình, không gian dối để được nên một với Chúa và dễ dàng tiếp cận nhau hơn.
Sứ điệp và sứ mạng của Thánh Gio-an Tẩy Giả được trình bầy vào Chúa nhật thứ hai và thứ ba trong các Mùa Vọng như một lời nhắc nhở chúng ta về sứ mạng của mình. Noi gương Ngài chúng ta được mời gọi ra đi để công bố cho những người chung quanh là hãy ăn năn, hãy dọn đuờng để chào đón Chúa Cứu Thế và tin vào Người.
Nói khác đi, khi nhìn lại việc Thiên Chúa gọi Gio-an Tẩy Giả cũng là lúc chúng ta nhớ lại ơn gọi của mình. Sáng kiến bắt nguồn từ Thiên Chúa. Ngài đi bước trước, đến trong hoàn cảnh của mỗi người chúng ta. Ngài không xuất hiện từ xa nhưng hiện diện ngay trong môi trường chúng ta sống, đến trong hoàn cảnh của từng người, không phân biệt lương hay giáo. Như Gio-an, chúng ta hãy mở lòng ra để đón nhận.
Bằng một công thức rất trang trọng, Thánh Luca đã giới thiệu sứ mạng của Gio-an được xuất phát và thúc đẩy bằng Lời Thiên Chúa. Và chúng ta đã đuợc gọi bởi Lời Chúa, thì để hoàn thành sứ mạng chúng ta cũng cần đuợc nuôi duỡng bằng Lời để phục vụ Lời, như Đức Giê-su đến để loan báo Lời Thiên Chúa và phục vụ Thiên Chúa vậy!
Như Gio-an Tẩy Giả, chúng ta đuợc gửi đến những nơi khác nhau, tìm gặp những ai chưa tin, mời gọi họ nhận ra ân huệ của Thiên Chúa đang hoạt động nơi họ, và sau cùng là chào đón Đấng Cứu Thế. Muốn hoàn thành sứ mạng này, chúng ta phải ra đi làm chứng bằng chính cuộc sống của mình. Con người của xã hôi hôm nay yêu chuộng nhân chứng hơn là lời nói xuông. Chúng ta loan báo điều chúng ta tin và niềm tin của chúng ta được phát sinh từ các trải nghiệm trong cuộc sống. Làm chứng bằng chính cuộc sống mình bao giờ cũng đem đến hậu quả bền vững hơn.
Giống như Gio-an Tẩy Giả, chúng ta không kêu gọi sự chú ý đến chính mình. Chúng ta đến để giới thiệu và chỉ cho người ta thấy con đường của Chúa. Từ bỏ vinh dự cao quí và lui về phía sau để Thiên Chúa thực hiện dự án của Ngài qua sứ mệnh mà chúng ta đã lĩnh nhận là điều tuy cần thiết nhưng rất khó thực hiện. Qua hành động như thế, chúng ta không hoạt động cho vinh quang của mình mà làm cho Danh Chúa được cả sáng hơn.
Như vậy, con đuờng mà chúng ta chuẩn bị cho Chúa đến là con đuờng đức tin, con đuờng của niềm vui; một niềm vui phát xuất từ bên trong phần sâu thẩm của tâm hồn và chỉ dành cho những ai đã đuợc Chúa chiếm đoạt. Trong sự tự do chúng ta đành mất tất cả để dành phần ích lợi cho anh em.
Tóm lại, trong tinh thần của Mùa Vọng năm nay, với gương sáng và việc chu toàn sứ mạng của Gio-an Tẩy Giả giúp cho chúng ta nhớ lại ơn gọi của chính mình. Chúng ta không chỉ đuợc kêu gọi ăn năn và sám hối để chuẩn bị tâm hồn Mừng Lễ Giáng Sinh mà thôi.
Hơn thế nữa, đây là cơ hội để chúng ta đào sâu và làm sáng tỏ ơn gọi đuợc xuất phát từ Lời Thiên Chúa, Đấng đã kêu gọi ta đến để phục vụ Lời. Người đã đến trong hoàn cảnh của từng người, với tất cả giới hạn của thân phận gắn liền với đổ vỡ và tội lỗi của mình. Chính trong vùng đất khô cằn như hoang địa như thế, Thiên Chúa đã cất nhắc chúng ta lên, cho phép chúng ta tham dự vào sứ vụ của Người.
Vì thế, chúng ta phải ra đi, không chỉ là tiền thân của Đấng Cứu Thế mà còn là hiện thân của Người, Đấng đã từ bỏ và chấp nhận mất tất cả để đem lại ơn cứu độ cho mọi người, không loại trừ một ai.
Như vậy, nhiệm vụ của chúng ta thật nặng nề. Tuy nhiên, Đấng Cứu Thế đã đi trước để dọn đuờng. Người đã hoàn thành sứ mạng này. Vì thế, trong Mùa Vọng này, chúng ta không chỉ dọn đường cho Người đến mà hãy buớc vào con đuờng của Người. Con đuờng yêu thương và đón nhận. Con đường tự hiến và hy sinh. Con đuờng tha thứ và chấp nhận. Con đuờng của sự thật để nhận ra tất cả là của Người.
Và, khi cùng dắt nhau đi trên con đuờng của Chúa, tâm hồn chúng ta sẽ rộng mở để đón nhận nhau, nhận ra sự hiện diện của Chúa Cứu Thế nơi tha nhân. Người đã đến giữa chúng ta, trong lòng người và giữa lòng đời. Và nếu chúng ta không nhận ra Người trong cuộc sống của nhau thì việc dọn đuờng để chuẩn bị cho việc mừng Lễ Giáng Sinh cũng là việc làm chiếu lệ, theo thói quen.
Xin hãy mở mắt chúng con nhận ra Người nơi anh em không chỉ trong Mùa Vọng này, nhưng là trong mọi khoảnh khắc của cuộc đời và nhất là trong các bữa tiệc Lòng Mến mà chúng con đến để trao gửi Chúa cho nhau. Amen! mục lục
Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
Thầy kính mến! Hôm nay, Thầy dùng lời ngôn sứ Isaia mà nhắc nhở con: hãy dọn đường đón Thầy đến. “Có tiếng người hô trong hoang địa: hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng” (Lc 3,4-5). Thầy ơi! Để đi vào tâm hồn con, Thầy gặp nhiều khó khăn lắm phải không? Con cũng đã từng tự hỏi: “Thầy Giêsu đang đến với tôi như thế nào?”, mà chưa thực sự chú tâm đến các khó khăn Thầy gặp phải.
Cuộc sống luôn luôn có đó những khó khăn mà con cần phải vượt qua. Lời Thầy vẫn chỉ cho con thấy một thực tế: đường bằng phẳng thì dễ đi, những con đường quanh co, lồi lõm, hay núi đồi hiểm trở thì có nhiều khó khăn, người ta phải rất vất vả và mất nhiều thời gian để đi; hay có nhiều người thường bỏ cuộc, họ tự tìm một con đường khác. Con thấy mình thường e ngại khi đi trên các con đường gập ghềnh, quanh co, lồi lõm, nhiều hiểm trở. Thầy là Đấng quyền năng, chẳng lẽ Thầy lại không vượt qua được những khó khăn đó sao? Thầy vượt qua được chứ. Thầy có thể đến với con bất cứ lúc nào Thầy muốn. Nhưng vấn đề không nằm ở chỗ Thầy có thể đến được với con hay không mà là chỗ con có đón được Thầy hay không. Đây là trách nhiệm của con, vì Thiên Chúa đã ban ơn cứu độ, còn việc có đón nhận hồng ân ấy hay không thì hoàn toàn tùy thuộc ở con. Vậy, để dọn đường cho Thầy đi, con phải bắt đầu từ đâu? Con đọc từng lời của Thầy, và con ngẫm suy. Con hiểu rằng Thầy vẫn đến với con ngang qua Lời của Thầy, qua con người, qua cuộc sống và nơi chính bản thân con. Khám phá những con đường này, nhìn nhận tình trạng của từng con đường để từ đó, con biết cộng tác với ơn Chúa mà sửa lại đường đón Chúa đến.
Con nhớ đến việc con đón nhận Lời Thầy mỗi ngày. Con nhận ra nhiều đoạn đường vẫn còn quanh co khi con chưa sống cho sự thật như lời Thầy mời gọi. Con chạy theo “bao vinh dự giả trá và đã làm hư công việc Chúa trao”. Lúc ấy con không nghe Thầy nói nhưng chỉ nghe những mời mọc của thế gian. Thầy chỉ dạy con hãy sống theo sự thật để sự thật giải phóng con. Con đi tiếp, và con tiếp tục nhận ra tâm hồn con còn có nhiều đồi núi của kiêu ngạo, tự mãn. Khi Lời Thầy được gieo vào lòng con, chính sự tự mãn và kiêu ngạo nơi con đã làm cho con không nghe rõ hay không nghe được Lời của Thầy. Để bạt đi núi đồi của sự kiêu ngạo, Thầy mời gọi con hãy khiêm nhường và hiền lành trong lòng; phục vụ với tâm tình của một người tôi tớ. Khi con thấy những lồi lõm xuất hiện vì những tự ti, mặc cảm, hay những hố sâu ngăn cách vì ghen tị, ích kỷ, Lời của Thầy bị chôn vùi và con không nhận ra được tiếng của Thầy nữa. Trong hố sâu của tội lỗi, con chỉ còn thấy những cay đắng và tủi hờn, chỉ còn thấy mình thoi thóp. Thầy vẫn đưa bàn tay đỡ nâng đời con, “vực con vươn lên khỏi những hố sâu tuyệt vọng”. Khi con không nghe được tiếng của Thầy, lòng con không cưu mang Lời của Thầy, con cũng đã tự mình khép lại con đường để đến với người khác, và con cũng không tìm thấy lối thoát cho chính mình. Để sống trong yêu thương với người khác, con phải sống trong sự hiện diện của Thầy. Bao lâu con biết mở lòng đón nhận Lời của Thầy và quyết chí thực thi Lời Thầy dạy thì lúc ấy con mới mở trái tim ra để đến với người khác.
Thầy biết con yêu mến Thầy, và Thầy cũng biết con chưa yêu Thầy như con cần phải yêu. Xin Thầy giúp con biết từng ngày chăm chú ngước nhìn Thầy, lắng nghe Lời Thầy và thực lòng nhìn vào tâm hồn mình để kịp thời sửa đường đón Chúa đến. Xin Thầy dâng lên Chúa Cha lời cầu nguyện của con: “Xin tình yêu Chúa thánh hóa chúng con, cho chúng con biết một lòng một ý và chân thành yêu thương nhau”, vì chính khi chúng con yêu thương nhau là khi Chúa sinh ra trong tâm hồn chúng con. Amen. mục lục
Bông Hồng Nhỏ
DỌN ĐƯỜNG CHO ƠN CỨU ĐỘ PHỔ QUÁT
Lu-ca là tác giả Tin Mừng về lịch sử cứu độ, ông triển khai lịch sử này thành ba phân cảnh hay thành một bức tam bình, chẳng hạn như trong câu rất cô đặc sau đây: “Cho đến thời ông Gio-an, thì có Lề Luật và các ngôn sứ (Ít-ra-en); còn từ thời đó thì Tin Mừng nước Thiên Chúa được loan báo (Đức Giê-su), và ai nấy đều dùng sức mạnh mà vào (Giáo Hội)” (16,16). Lu-ca cũng thích dựng lên nhiều hàng hiên (trụ lang) qua đó ông đưa chúng ta long trọng đi vào lịch sử. Khi Đức Giê-su sinh ra thì: “Thời ấy, hoàng đế Au-gút-tô ra chiếu chỉ...” (2,1). Khi Người khởi sự cuộc sống công khai, với Gio-an Tẩy giả kéo màn, như trong bài Tin Mừng hôm nay, thì “Năm thứ mười lăm triều hoàng đế Ti-bê-ri-ô, thời Phong-xi-ô Phi-la-tô làm tổng trấn, Hê-rô-đê làm tiểu vương... Kha-nan và Cai-pha làm thượng tế...”
Thiên Chúa Muốn Cứu Rỗi Mọi Người...
Tại sao Lu-ca đã quy tụ cả một loạt nhân vật lịch sử như vậy chung quanh chân trời từ đó Đức Giê-su sắp nổi lên ? Đấy là vì ông muốn trình bày cho thấy chúng ta chẳng phải sắp trải qua một kinh nghiệm thần bí, khôn tả và nội tâm, nhưng sắp chứng kiến một sự xâm nhập của Thiên Chúa vào bên trong những năm tháng và những con đường của loài người, nghĩa là vào bên trong lịch sử nhân loại. Trung tâm điểm và độc đáo tính của Ki-tô giáo là thế, sự lạ bất ngờ ta phải loan báo là thế. Như một triết gia Ki-tô giáo Đan Mạch thế kỷ vừa qua Soren Kierkegaard từng viết, hai thế giới của Thiên Chúa và của con người, của trời và của đất trong Đức Ki-tô đã đụng chạm nhau, không phải để nổ tung nhưng là để kết hợp. Hầu thực hiện một công trình vĩ đại là ban bố ơn cứu độ phổ quát.
Quả thế, lời mở đầu với những nhân vật đương thời vừa thấy là tiếng cồng lớn nhất của lịch sử, công bố một chuyện phi thường: “Mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa.” Điều mà cụ già Si-mê-ôn đã loan báo cách âm thầm hơn: “Mắt con đã thấy ơn cứu độ Ngài đã bày ra trước mặt muôn dân: Ít-ra-en và dân ngoại.” Chúng ta đã thường quá thu hẹp các chân trời này, lãng quên hạng người đầu, loại bỏ hạng người sau. Và chúng ta luôn liều mình đánh mất, trên các con đường của lịch sử, cái lẽ ra phải là nỗi ám ảnh của chúng ta: Thiên Chúa là Thiên Chúa của mọi người, Người muốn cứu họ tất cả. Như Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô nói trong số 1 Sứ điệp Truyền giáo năm 2024: “Truyền giáo là hăng hái ra đi đến với mọi người, nam cũng như nữ, để mời gọi họ gặp gỡ Thiên Chúa và sống hiệp thông với Người. Không mỏi mệt! Là Đấng yêu thương tuyệt vời và giàu lòng thương xót, Thiên Chúa chẳng ngừng ra đi để gặp gỡ mọi người, và kêu gọi họ đến hưởng hạnh phúc trong Nước của Người, ngay cả khi Người phải đối diện với sự dửng dưng và chối từ của họ. Đức Giê-su Ki-tô, Mục tử Nhân hậu và sứ giả của Chúa Cha, đã ra đi tìm kiếm những con chiên lạc nhà Ít-ra-en và Người còn muốn đi xa hơn nữa, để đến được cả với những con chiên xa xôi nhất (x. Ga 10,16). Cả trước và sau khi phục sinh, Người thường xuyên nói với các môn đệ: “Hãy đi!” có ý cho thấy Người cho họ tham gia vào chính sứ vụ của Người (x. Lc 10,3; Mc 16,15). Về phần mình, Hội Thánh trung thành với sứ vụ đã lãnh nhận từ Chúa, sẽ tiếp tục ra đi đến tận cùng trái đất, ra đi rồi lại mải miết ra đi, không bao giờ mệt mỏi hay chán nản trước các khó khăn và trở ngại.”
Thiên Chúa muốn thực hiện tất cả những điều đó nhờ Đấng Mê-si-a (Ki-tô). Dân Do-thái thời ấy nóng lòng chờ đợi vị này tới độ trái tim họ bắt đầu đập khi nhìn nhà ngôn sứ mới, Gio-an Tẩy giả: “Biết đâu ông ta lại chẳng là Đấng Ki-tô” (Lc 3,15). Thế nhưng, sẽ có điều lạ thường hơn nữa! Rồi đây, nhờ Tin Mừng, nhờ cuộc Phục sinh và nhờ cuộc Hiện xuống, những người Do-thái độc thần cách quyết liệt sẽ thấy mở ra trước mắt cũng như được mời gọi đón nhận điều không thể tưởng tượng: Đấng Mê-si-a, ấy là Đức Giê-su, và Đức Giê-su lại là Thiên Chúa. Và Gio-an Tẩy giả đã phác họa chân dung đầu tiên về Người: “Một Đấng quyền thế hơn tôi đang đến...” (3,16). Nhưng cũng sẽ phải cần các đại thần học gia của những thế kỷ đầu, kinh nghiệm của các thánh, và nhất là Thánh Thần, mới ấp úng được điểu không thể trình bày: Thiên Chúa độc nhất là Cha, Con và Thánh Thần; và Ngôi Con đã nhập thể, dưới triều hoàng đế Au-gút-tô và hoàng đế Ti-bê-ri-ô.
... Qua Việc Hoán Cải Bản Thân Chúng Ta
Mùa Vọng đặt ta lại trước các chân trời bao la ấy của ơn cứu độ, ơn cứu độ dành cho mọi người mà Chúa Cha đã sai Con mình đến với. Nhưng còn phải đón nhận Người Con đó! Và Gio-an Tẩy giả, con người trần trụi trước đám nhân vật tai to mặt lớn trong thiên hạ đương thời, đã yêu cầu chúng ta chuẩn bị cho Người một con đường, một lời yêu cầu bất khoan nhượng, đầy thách thức. Muốn hiểu con đường này, ta hãy lên lại Bài đọc thứ nhất hôm nay, trong đó ngôn sứ Ba-rúc (5,7), bắt chước I-sai-a, đã viết: “Thiên Chúa đã ra lệnh phải bạt thấp mọi núi cao và gò nổng có tự lâu đời, phải lấp đầy các thung lũng cho mặt đất trở nên phẳng phiu, để Ít-ra-en tiến bước an toàn dưới ánh vinh quang của Thiên Chúa”. Thành thử con đường ấy là con đường thẳng, hướng đến một mục tiêu có ánh sáng tràn ngập. Đó là “con đường thiêng” (thần lộ) mà ở Tây Á cổ vẫn thường được xây dựng trước các đền thờ: chúng phải thật bằng phẳng và thẳng tắp, dấu chỉ sự hoàn hảo và niềm hân hoan.
Đây là một hình ảnh nhắc cho Ki-tô hữu chúng ta nhớ rằng để gặp Đấng Mê-si-a đang đến, gặp ánh sáng của tương lai, gặp niềm vui của tự do trọn vẹn, chúng ta phải mở cho được một con đường thẳng giữa bao chuyển động quanh co của lịch sử, bao mưu toan mờ ám nhằm áp đặt ách toàn trị độc tài; phải kiên trì phá hủy các ngọn núi của chủ nghĩa vô thần hay của thói thờ ngẫu tượng vốn án ngữ chân trời của chúng ta; phải lấp đầy vực sâu của phi lý, của vô nghĩa, của trống rỗng nội tâm tạo nên bởi một não trạng duy vật hưởng thụ. Cụ thể nơi bản thân và trong hoàn cảnh chúng ta, “giải tỏa” và “dọn sạch” thần lộ là làm bay tung những cánh cửa gài then quá chặt vì sợ hãi, chẳng dám công khai lên tiếng trước những quyền lực bất công, là phá hủy những ngọn núi ngập ngừng và vấn nạn, chẳng muốn dấn thân để làm chứng nhân cho chân lý, lý luận rằng chỉ cần làm chứng nhân cho bác ái là đủ, là lấp đầy những hố sâu ích kỷ, chỉ tìm an thân và dễ dãi cho chính mình, tìm ân huệ từ những kẻ nắm quyền lực, bất chấp chuyện anh em mình đang đau khổ vì mất những điều kiện căn bản để làm con người và làm con Chúa. Như Thánh Giáo hoàng Gio-an-Phao-lô II từng nói trong Sứ điệp Truyền giáo năm 2000: “Chương trình Thiên Chúa là muốn tất cả mọi người kết hiệp với mình, để biến họ thành một dân gồm những anh chị em được giải thoát khỏi những bất công và được sinh động bởi những tâm tình liên đới đích thực.” Đây là một công việc đầy kiên nhẫn và can đảm, vì đòi trả giá bằng mồ hôi và nước mắt; nhưng cuối cùng trên con đường ấy, sẽ đi vào một đoàn người thật đông đảo “thuộc mọi nước, mọi chi tộc, mọi dân và mọi ngôn ngữ”, như Khải Huyền sẽ mô tả (7,9).
Thưa với Chúa Mùa Vọng: “Xin đến cứu hết thảy chúng con!” sẽ là một lời cầu nguyện của kẻ mộng mơ nếu nó không làm ta nhớ tới cái phải được cứu trong mỗi người chúng ta. Nghe một lãnh chúa Tây Ban Nha phàn nàn: “Mọi chuyện ra tồi tệ!” thánh Phê-rô Alcantara (1499-1562) đã trả lời: “Nếu ông tạo cho mình một con tim nhân lành, thì chính một phần của thế giới đã nên tốt đẹp.” Bà Elisabeth Leseur (1866-1914), một nữ giáo dân thần bí người Pháp đã được Giáo Hội đưa lên bàn thờ dưới tước hiệu “Tôi tớ Thiên Chúa”, cũng trong hoàn cảnh tương tự. Chồng bà là một nhà trí thức vô thần hết sức cực đoan. Không làm sao khuyên nhủ được chồng, bà đã cố gắng làm một người vợ hiền thảo và làm một tín hữu rất thánh thiện. Bao nhiêu tâm sự chẳng bày tỏ được với chồng, bà đã bày tỏ với Chúa trong nhật ký. Sau khi bà chết, ông Leseur không khỏi tiếc thương người vợ có tâm hồn quảng đại dịu dàng của mình, và vì muốn “đập cổ kính ra tìm lấy bóng, xếp tàn y lại để dành hơi”, ông đã lục tìm những tập nhật ký của bà để đọc. Ông đã say sưa theo dõi từng hàng chữ tâm sự và đã hiểu ra ước vọng tha thiết của vợ là thấy ông nhìn nhận trở lại tình yêu của Thiên Chúa.
Cuối cùng thì ông đã hồi tâm, xin học giáo lý và chịu Bí tích Thánh Tẩy năm 1915. Không bao lâu sau đó, ông xin vào nhà tập dòng Đa-minh, nơi đây ông thành tâm kiên nhẫn theo đuổi cuộc sống tu trì và được thụ phong Linh mục. Khi gương sống thánh thiện của bà Elisabeth Leseur bắt đầu có ảnh hưởng rộng và sâu sắc trên xã hội thì bề trên dòng đã mạnh dạn chỉ định Linh mục Leseur lên đường đi diễn thuyết nhiều nơi về đời sống gương mẫu của người vợ đã chết trước đây của mình. Lúc đầu, cha Leseur rất e ngại chần chừ, nhưng cuối cùng cha đã vâng lời. Năm 1930, cha soạn cuốn “Hạnh bà Elisabeth Leseur” trong khi tập nhật ký trước đây của bà đã xuất bản tới hàng trăm ngàn quyển. mục lục
Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
(niệm ý Lc 3,1-6)
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.