SUY NIỆM CHÚA NHẬT 6 THƯỜNG NIÊN_C

14-02-2025 1,691 lượt xem

Lời Chúa: Gr 17, 5-8; 1 Cr 15,12.16-20;  Lc 6,17.20-26

Mục Lục

HỌC HỎI PHÚC ÂM – Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

CHỌN LỰA KHÔN NGOAN – + ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên

CHUYỆN GIẦU - NGHÈO, PHÚC VÀ HỌA – Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

NHỮNG TUYÊN BỐ LẠ LÙNG CỦA CHÚA GIÊSU – Phêrô Phạm Văn Trung

HẠNH PHÚC THUỘC VỀ CHÚA – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

CON ĐƯỜNG HẠNH PHÚC – Jorathe Nắng Tím  

PHÚC HỌA BỞI ĐÂU? – Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

ĐÚNG ĐỊA CHỈ – Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

HỌC HỎI PHÚC ÂM

CÂU HỎI TÌM HIỂU

1. Sau khi chọn mười hai Tông đồ, Đức Giêsu cùng với họ xuống núi (Lc 6,17). Ngài giảng Bài Giảng ở Luca 6,20-49 cho ai? ở đâu?

2. Hãy so sánh Bài Giảng trên Núi trong Tin Mừng Mát-thêu ở chương 5-7, với Bài Giảng trên Đất Bằng trong Tin Mừng Lu-ca ở chương 6,20-49. Tìm vài điểm giống và khác nhau.

3. Tìm một số điểm giống nhau và khác nhau giữa các Mối Phúc của Mát-thêu 5,3-12 và các Mối Phúc của Lu-ca 6,20-23.

4. Đọc Luca 6,20-23. Tại sao những người nghèo, đói, khóc than, bị bách hại, lại được coi là những người có phúc?

5. Đọc các Mối Phúc của Luca 6,20-23 bạn có bị sốc không? Tại sao đây lại là những mối phúc? Đâu là những giá trị thường được người đời thèm muốn và ca tụng?

6. Đọc các bản văn sau đây Lc 10,4; 12,16-21; 16,13.19-22; 18,24; 21,2-4. Cho biết ích lợi thiêng liêng của cái nghèo vật chất.

7. Đọc Lc 6,24-26. “Khốn cho…” có nghĩa gì? Đây có phải là một lời chúc dữ không? Tại sao Đức Giêsu lại nói “khốn cho” người giàu, người no nê, người vui cười, người được mọi người ca tụng?

GỢI Ý SUY NIỆM:

Nếu bạn là người nghèo, bài Tin Mừng này nói với bạn điều gì? Nếu bạn là người giàu, bài Tin Mừng này nói với bạn điều gì?

PHẦN TRẢ LỜI

1. Sau khi lên núi và chọn mười hai ông mà Ngài gọi là tông đồ (apostolos, Lc 6,13), Đức Giêsu xuống núi cùng với các ông (Lc 6,17). Ngài đứng ở một chỗ đất bằng để giảng Bài giảng này (Lc 6,20-49) cho các môn đệ (mathêtês, Lc 6,20). Nhóm môn đệ này hẳn bao gồm cả Nhóm Mười Hai tông đồ. Hơn nữa, chắc đám đông dân chúng từ khắp nơi trong nước Ítraen và cả vùng dân ngoại là Tia và Xi-đôn cũng được nghe Bài giảng này. Tin Mừng Luca phân biệt tông đồ và môn đệ. Đức Giêsu có mười hai tông đồ, nhưng có bảy mươi hay bảy mươi hai môn đệ (Lc 10,1.17).

2. Bài giảng ở Lc 6,20-49 tương ứng với Bài giảng ở Mt 5,1 – 7,27. Hai bài giảng có những điểm giống nhau. Cả hai đều có các Mối Phúc; thính giả là các môn đệ và có đám đông nữa. Tuy nhiên, Bài giảng ở Mát-thêu diễn ra ở trên núi, Đức Giêsu ngồi giảng như một vị Thầy, các môn đệ kéo đến gần Ngài. Còn bài giảng ở Luca diễn ra trên đất bằng. Đức Giêsu đứng và đông đảo môn đệ cũng như dân chúng kéo đến để được nghe giảng và chữa lành.

3. Các Mối Phúc ở Mt 5,3-12 giống với các Mối Phúc ở Lc 6,20-23 ở một số điểm. Tất cả Mối Phúc đều bắt đầu bằng câu “Phúc cho…” (makárioi), đều nói đến người nghèo, người đói và đau buồn (sầu khổ, khóc), bị bách hại vì Đức Giêsu. Tuy nhiên, cũng có nhiều điểm khác biệt giữa các Mối Phúc ở Mát-thêu và Luca. Mát-thêu có 8 hay 9 mối phúc, Luca chỉ có 4 mối phúc. Các mối phúc trong Mát-thêu thì ở ngôi thứ ba: “Phúc cho những ai…”, còn các mối phúc trong Luca thì ở ngôi thứ hai: “Phúc cho anh em…”. Các mối phúc trong Mát-thêu mang ý nghĩa luân lý, đạo đức nhiều hơn, còn các mối phúc trong Luca mang ý nghĩa kinh tế, xã hội nhiều hơn. Thí dụ: Mt nói đến “nghèo khó trong tinh thần” (Mt 5,3), còn Lc nói đến “nghèo khó”, nghiêng theo nghĩa vật chất (Lc 6,20); Mt nói đến “đói khát sự công chính” (Mt 5,6), còn Luca lại nói đến cái “đói bây giờ” của thân xác (Lc 6,21). Luca không nói đến các mối phúc có tính đạo đức như phúc cho người hiền lành, có lòng thương xót, có tâm hồn trong sạch, và xây dựng hòa bình như Mát-thêu. Một khác biệt nữa là ngoài 4 mối phúc, Tin Mừng Luca còn có 4 mối họa, tương phản với 4 mối phúc (Lc 6,24-26).

4. Các mối phúc ở Lc 6,20-23 nhắc đến những người nghèo, những người bây giờ đang đói hay đang khóc, những người bị bách hại dưới nhiều hình thức vì Chúa Giêsu. Những người ấy có phúc không phải chỉ vì họ nghèo, đói, khóc lóc hay bị bách hại. Họ có phúc vì Thiên Chúa thương họ và thi ân, khi thấy họ phải chịu tình cảnh đáng thương. Ngài thi ân bằng cách ban cho họ những điều họ đang thiếu. Người đói được no, người khóc được cười, người bị bách hại vì Chúa Giê-su thì vui mừng nhảy múa. Còn người nghèo lại được một điều đặc biệt, đó là được Nước Thiên Chúa làm sở hữu, ngay từ bây giờ. Như thế các mối phúc là quà tặng của Thiên Chúa ban cho con người, chứ không phải là chuyện tự nhiên do nguyên lý nhân quả.

5. Khi đọc các mối phúc của Luca (6,20-23), ta có thể bị sốc, vì theo quan niệm thông thường, người có phúc là người được Chúa ban cho giàu có, no đủ, cười nói hả hê, được danh thơm tiếng tốt. Không ai coi người nghèo khổ hay đói khát là có phúc. Tuy nhiên, nếu đọc cả hai vế của từng mối phúc, chúng ta mới thấy tại sao người nghèo, người đói lại có phúc. Cần để ý đến liên từ vì nối hai vế. “Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang đói” vì “anh em sẽ được no.” Anh em có phúc không phải vì đang đói, nhưng vì Thiên Chúa sẽ làm cho anh em được no (x. Lc 1,53). Ngài sẽ đáp ứng nhu cầu thân xác hiện nay của anh em (x. Lc 9,11-17). Anh em có phúc không phải vì đang khóc hay chịu bách hại, nhưng vì Thiên Chúa sẽ làm cho anh em vui mừng hân hoan (Lc 6,21; 7,13-16; 8,52-56). Các Mối Phúc nói lên niềm hy vọng ngay giữa lúc gặp gian nan thử thách.

6. Nghèo khó về mặt vật chất có thể giúp người ta siêu thoát hơn để tín thác vào Chúa và mở lòng trước tha nhân. Khi được Thầy sai đi, các môn đệ không được đem theo những điều cần thiết, nhờ đó họ có thể tựa nương hoàn toàn vào Thiên Chúa (Lc 10,4). Bà góa nghèo nhưng quảng đại khi bỏ tiền dâng cúng trong Đền thờ vì bà tín thác vào Chúa (Lc 21,2-4). Ngược lại, giàu sang về mặt vật chất có thể làm người ta không cần đến Thiên Chúa và không quan tâm đến tha nhân (Lc 12,16-21; 16,19-22). Vị thủ lãnh giàu có đã không đáp lại lời mời của Đức Giêsu (Lc 18,18-23), vì thế ông khó vào Nước Thiên Chúa (Lc 18,24).

7. Đối lập với bốn mối phúc là bốn “mối họa” (Lc 6,24-26). Các mối họa đều bắt đầu bằng lối nói “khốn cho…” (ouài), nhắm vào những người đang giàu, đang no nê, đang cười, hay đang được mọi người ca tụng. Tuy nhiên, đừng hiểu là Đức Giêsu cấm chúng ta sống no đủ, sống vui tươi, hay bảo chúng ta phải sống sao để cho mọi người phỉ báng! Ngài chỉ muốn dạy chúng ta là đừng để của cải, tiếng tăm và lạc thú ở đời khiến chúng ta không cần Thiên Chúa và quay lưng với anh em. Mối họa thật sự, hậu quả của thái độ này, là ta sẽ không được Ngài an ủi nữa, sẽ bị đói, bị khóc than, và được đối xử như các tiên tri giả ngày xưa. Lời “khốn cho” không phải là một lời Chúa chúc dữ cho người giàu có, no đủ, vui vẻ hay được ca tụng, nhưng đây là một lời cảnh báo về hình phạt sẽ xảy đến nếu họ giữ thái độ khép kín. Người giàu sẽ là người có phúc nếu biết chia sẻ cho người thiếu thốn (Lc 10,29-37; 14,12-14; 19,1-10). mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

CHỌN LỰA KHÔN NGOAN

Đau khổ trong cuộc sống con người không phải là định mệnh. Đó là khẳng định của đa số các tôn giáo. Thiên Chúa không bao giờ là tác giả của sự dữ, vì bản tính của Ngài là tốt lành. Kinh Thánh Cựu ước khẳng định: “Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong” (Kn 1,13). Lời khẳng định cho thấy rằng: quả là Thiên Chúa có thể cho phép sự dữ xảy ra, nhưng sự dữ không bao giờ có nguồn gốc từ Thiên Chúa.

Hiểu như trên, chúng ta không đổ lỗi cho Thiên Chúa về sự dữ hay điều bất hạnh xảy đến xung quanh mình. Hiện hữu trên đời, mỗi chúng ta có tự do chọn lựa và chịu trách nhiệm về sự chọn lựa này. Trong Bài đọc I, trích sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a, Thiên Chúa đã chúc phúc cho những ai tin tưởng phó thác nơi Chúa, và Ngài thấy nỗi bất hạnh của những kẻ tin tưởng người đời. Ngài cũng đặt song song hai sự chọn lựa để cho thấy sự khác biệt: Tin vào Chúa giống như cây trồng bên suối nước, bốn mùa hoa trái tốt tươi; tin người trần gian giống như cây giữa sa mạc, quanh năm khô cằn tàn lụi. Thánh vịnh 31 trong phần Đáp ca diễn tả cùng một ý tưởng với Bài đọc I. Tác giả còn nhắc đến những hậu quả mà ác nhân sẽ phải lãnh nhận. Họ sẽ như những vỏ trấu bị gió cuốn trôi và biến mất. Bài Tin Mừng theo thánh Lu-ca ghi lại giáo huấn của Chúa Giê-su về hai hạng người, là những người sẽ được hạnh phúc và sẽ phải đau khổ. Có người hiểu cách nói của Chúa Giê-su là lời chúc dữ. Thực ra, Chúa không chúc dữ cho con người, nhưng Chúa cảm nhận được nỗi bất hạnh khốn khổ khi con người chỉ chạy theo những lạc thú và lợi lộc vật chất mà quên đi những giá trị vĩnh cửu. Người cũng dạy chúng ta phải thận trọng suy xét những hành động và quyết định trong cuộc sống hằng ngày, để cuộc sống không trở nên vô ích, nhưng tìm thấy niềm vui và hạnh phúc giữa những bon chen của đời thường.

Như trên đã nói, con người có tự do lựa chọn điều tốt hay điều xấu cho bản thân mình, cho hiện tại và cho tương lai. Cuộc sống này cũng giống như một bàn cờ khổng lồ, mà mỗi chúng ta đều đang là những người chơi cờ. Có những nước cờ đem lại chiến thắng vẻ vang; nhưng cũng có những nước cờ đem lại thất bại ê chề. Mỗi nước cờ đã đi, người chơi phải mang trách nhiệm, không thể làm lại được. Cuộc đời cũng thế, mỗi chúng ta phải khôn ngoan chọn lựa để không phải lãnh hậu quả tai hại về danh dự, nhân phẩm, của cải và nhất là hạnh phúc đời sau.

Đối với Ki-tô hữu, sự chọn Đức Ki-tô là một chọn lựa khôn ngoan. Người là mẫu mực và là lý tưởng cho chúng ta trong lời nói cũng như việc làm. “Ki-tô hữu” vừa có nghĩa là người được xức dầu như Chúa Giê-su, vừa là người phấn đấu để nên giống như Người. Thánh Phao-lô đã khẳng định (Bài đọc II): Đức Ki-tô không phải một gương mẫu giống như những vĩ nhân ở trần gian, nhưng Người là Con Thiên Chúa, Đấng quyền năng. Quyền năng ấy đã chứng minh qua sự phục sinh vinh quang. Giáo huấn của thánh Phao-lô cho thấy những tranh luận thời bấy giờ về việc Đức Giê-su phục sinh. Nhiều người đã phủ nhận sự kiện này, trong khi thánh Phao-lô lại coi đó là nền tảng đức tin cho đời sống Ki-tô hữu. Tình trạng này cũng vẫn tồn tại trong thế giới của chúng ta. Nhiều người coi việc Đức Giê-su sống lại là điều ảo tưởng, do các môn đệ của Người bày đặt ra. Lý do là họ chưa bao giờ chứng kiến một người đã chết mà ba ngày sau sống lại. Lập luận như thế là không hiểu mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Hai Thiên Chúa. Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể, vì Ngài đã dựng nên mọi vật từ hư vô và Ngài vẫn đang điều khiển công trình tạo thành của Ngài từng giây từng phút, nhờ đó mà mọi vật hiện hữu và chuyển vận theo một trật tự chung.

Tin vào Đức Giê-su là một chọn lựa cá nhân. Chọn lựa ấy càng ngày càng rõ nét và triệt để, từng bước thăng tiến với tuổi tác của chúng ta. Chọn lựa Đức Giê-su không phải chỉ là khẩu hiệu hay nhãn mác bề ngoài, nhưng là một lý tưởng, một đường hướng sống. Sự chọn lựa ấy sẽ chi phối lời nói, tư tưởng và hành động của Ki-tô hữu. Một khi đã chọn lựa Đức Ki-tô thì phải chuyên cần thực thi giáo huấn của Người và cố gắng nỗ lực để trở nên giống như Người trong hành động và lời nói. Khi chọn lựa Đức Ki-tô và tuân theo giáo huấn của Người, chúng ta sẽ là những người có phúc.

Trong cuộc sống, chọn lựa nào cũng đòi hỏi phải hy sinh. Quả vậy, người ta không thể tìm thấy niềm vui và hạnh phúc khi vừa tôn thờ Thiên Chúa vừa có những thực hành không phù hợp với giáo huấn của Ngài. Đó là sự tôn thờ ngẫu tượng, hay là lối sống dối trá, giả hình, vu khống và làm hại người khác. Người chọn lựa Chúa Giê-su và đi theo làm môn đệ của Người sẽ luôn dành cho Người những ưu tiên trong đời sống những thực hành của đời sống hằng ngày. Hạnh phúc hay bất hạnh, được cứu rỗi hay bị trầm luân, được khen thưởng hay bị kết án… tất cả đều do chúng ta tự do chọn lựa. Trước mặt chúng ta luôn có hai con đường. Nếu chúng ta chọn lựa con đường thánh thiện, Chúa sẽ luôn đồng hành và chúc phúc cho chúng ta. mục lục

+ ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên

CHUYỆN GIẦU - NGHÈO, PHÚC VÀ HỌA

Chuyện giầu nghèo, phúc và hoạ mà Chúa Giêsu nói đến trong Tin Mừng hôm nay khiến nhiều người không khỏi thắc mắc : Thế nào là giàu, thế nào là nghèo ? Tại sao giầu mà là bị coi là kẻ khốn và nghèo lại được chúc phúc. Phải chăng Đức Giêsu là người cổ hủ, lỗi thời khi cổ súy cái nghèo? Hơn nữa, Người lại còn mời gọi những ai muốn đi theo và làm môn đệ cũng phải sống một cuộc sống bần cùng, cơ cực?

Chúng ta đừng quyên trong Cựu Ước, giàu sang là phúc lành của Thiên Chúa (x. St 13); (x. G.1-2;42,10-15). Tuy nhiên, cũng có những sự giàu có bất chính do bóc lột người nghèo, các ngôn sứ lớn tiếng tố cáo và công bố hậu quả, như Amos 2,6-18; 3,9-12.

Vấn nạn từ mối phúc

Người đời thường coi hạnh phúc bắt nguồn từ giàu sang, no đủ, từ danh thơm tiếng tốt. Khi công bố trong đoạn Tin Mừng (Lc), Chúa Giêsu đưa chúng ta đi vào một thế giới khác, với sự đánh giá khác. Người cho các môn đệ biết rằng: họ là những người có phúc, khi phải chịu nghèo đói, đau khổ, bách hại vì Người. Nếu Chúa Giêsu tuyên bố: “Phúc cho anh em là những người bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng” (Lc 6,21). Vậy ai là người đói khát và ai là người no thỏa?

Chẳng những Chúa Giêsu từ ngàn xưa đã công bố như thế, mà ngay chính Đức Giáo hoàng Phanxicô trong thời hiện đại khi kể chuyện về giây phút cái danh hiệu PHANXICÔ đi vào lòng ngài, ngài diễn tả chương trình hành động của ngài, không phải bằng một lời tuyên bố long trọng, nhưng bằng cách bộc lộ một nỗi khao khát: “Ôi, tôi mong ước biết bao có được một Hội Thánh nghèo và vì người nghèo”.  Nhưng khi nghe đến “một Hội Thánh nghèo và vì người nghèo”.

Có người hỏi: “Thế còn người giàu thì sao?” Phải chăng một “Hội Thánh nghèo” là một Hội Thánh gồm toàn những người nghèo? Nếu Nước Thiên Chúa là của người nghèo thì người giàu bị loại hết hay sao?

Phúc cho kẻ nghèo

Khi tuyên bố: “Phúc cho những kẻ nghèo khó”, Chúa Giêsu không hề có ý muốn biến thế giới thành một thế giới nghèo đói, bần cùng. Của cải vật chất thật cần thiết để cho con người được sống xứng phẩm giá con người; Thiên Chúa đã tạo dựng con người đặt con người làm chủ và hưởng dùng mọi sự trong vũ trụ. Nhưng của cải vật chất là phương tiện, chứ không phải là cứu cánh. Trước mặt Thiên Chúa, người giàu có chỉ là người “quản lý” của cải vật chất, trước sau cũng phải giao lại cho người khác. Của cải đời này luôn là “của người khác”.

Nước Thiên Chúa là phần của người nghèo, của cải thế gian phần của người giàu, nếu người giàu chia phần của mình với người nghèo bây giờ
thì khi tới phiên được hưởng, người nghèo sẽ chia Nước Thiên Chúa cho người giàu.

Người nghèo là người biết sống cho những giá trị ấy, cho dù giữa những vất vả lo toan, miếng cơm, manh áo, họ vẫn luôn tìm kiếm Nước Trời, họ sẽ là người hạnh phúc nhất, vì biết mình sống để làm gì và sẽ đi về đâu.

Khốn cho người giầu

Tại sao Chúa Giêsu lại nặng lời với những người giầu?

Chúng ta biết rằng, trong xã hội Chúa Giêsu đang sống lúc bấy giờ, kẻ giàu đang áp bức kẻ nghèo, kẻ giàu đang kéo người nghèo ra tòa, chỉ vì họ mắc nợ. Những người đang sống dưới bậc tận cùng của nấc thang xã hội nghèo khổ đến độ họ khó có thể sống nổi, trong khi những kẻ cho vay nặng lãi đang giàu sụ và bóc lột họ. Chúa Giêsu không lên án của cải, không kết án sự giàu có, mà chỉ buộc tội những kẻ giàu không biết thương xót người khác.

Cũng một phần vì của cải là ngẫu tượng hấp dẫn, nó cuốn hút chúng ta và đẩy xa Thiên Chúa ra khỏi lòng chúng ta. Nếu xem tiền của là chủ đời ta, thì tiền của sẽ túm lấy ta, phá vỡ sự hòa hợp giữ con người với nhau, hủy hoại cuộc sống và linh hồn khiến ta không còn yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết sức và hết trí khôn nữa, và như thế là đối nghịch lại với điều răn thứ nhất là thờ phượng Một Đức Chúa Trời và kính mến người trên hết mọi sự.

Nếu Chúa ban cho ta của cải giàu có thì chính là để trao tặng cho người khác, để nhân danh Chúa làm nhiều điều tốt cho tha nhân. Nhưng của cải có khả năng cám dỗ chúng ta và chúng ta bị sa ngã, trở thành nô lệ của sự giàu có. Đã có lần Đức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi chúng ta cầu nguyện một tí và hy sinh một tí, không phải cho người nghèo, nhưng cho người giàu. (REI 24/05/2018)

Một Hội Thánh nghèo và vì người nghèo

Một Hội Thánh nghèo không phải là một Hội Thánh gồm toàn người nghèo. Hội Thánh không phải là Bang Hội của Cái Bang (ăn mày). Hội Thánh gồm tất cả những ai tìm kiếm và tin nhận Thiên Chúa là hạnh phúc duy nhất và vĩnh cửu và “Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin” (Dt 12,2). Chính khi kêu gọi các tín hữu quyên góp để chia sẻ với cộng đoàn Giêrusalem đang lâm cảnh khó khăn mà thánh Phaolô nại đến gương Chúa Giêsu: “Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của minh mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cor 8,9).

Như vậy, Một Hội Thánh nghèo là một Hội Thánh sống tinh thần nghèo khó của Tin Mừng, không dính bén với của cải vật chất, không chạy theo thói thế gian, không đặt của trọng hơn người.

Sống lời Chúa dạy

Việc đầu tiên phải làm cho người nghèo, là biết quan tâm đến những cảnh ngộ lầm than, đáng thương quanh ta. Giảm thiểu khoảng cách bất công giữa người giầu và người nghèo một vùng miền nào đó.

Chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta trở nên những khí cụ tình thương hải hà của Chúa đối với anh em. Amen. mục lục

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

NHỮNG TUYÊN BỐ LẠ LÙNG CỦA CHÚA GIÊSU

Hôm nay, trong trình thuật Tin Mừng theo thánh Luca, Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta thấy hạnh phúc đích thực nằm ở đâu. Nhưng thoạt nghe, các mối phúc này không phúc chút nào theo mong ước thông thường của người đời, vì chúng đi kèm với nào là “nghèo khó, đói khát, khóc lóc và cả bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa” nữa (Lc 6: 20-22). Thật là những chuyện chẳng ai thích, vì ai cũng biết đó là những nỗi khổ, những bất hạnh không nên rơi vào. Những điều như vậy không phải là những tuyên bố lạ lùng hay sao? Vậy Chúa Giêsu thực sự muốn công bố sứ điệp gì khi Ngài tuyên bố những điều lạ lùng như thế?

1. Một sự đảo ngược triệt để các giá trị của người đời 

Thánh Luca ghi nhận một chi tiết quan trọng: trước khi nói những điều lạ lùng này, “Chúa Giêsu ngước mắt lên nhìn các môn đệ” (Lc 6: 20). Chúa Giêsu nhìn những ai Ngài kêu gọi, những ai chọn bước đi theo Ngài, những người thực lòng muốn trở thành môn đệ của Ngài. Chúa Giêsu biết những gì là quan trọng đối với họ, trong tư cách là môn đệ của Ngài, là phải biết cách phân biệt hạnh phúc đích thực với những thứ vui vẻ giả tạo không bền vững. Những thứ bên ngoài này, dù có vẻ là vui sướng, nhưng thực ra chúng hời hợt, chóng qua và rồi để lại những khốn khổ: “Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có...Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê…Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười… Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng” (Lc 6: 24-26). Như thường thấy trong các sách Tin Mừng, ở đây chúng ta có một ví dụ về sự đảo ngược bậc thang giá trị mà Chúa Giêsu rất coi trọng. Người ta vui vẻ khi được ăn no và vui cười thích thú khi mọi người ca tụng mình. Điều này có vẻ phù hợp với suy nghĩ, lời nói và hành động của hầu hết người đời chúng ta. Tuy nhiên, đối với Chúa Giêsu, và những ai muốn trở thành môn đệ đích thực của Ngài, thì hạnh phúc thật không phải như thế, nhưng ngược lại: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó...Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói… Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc… húc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa…” (Lc 6: 20-22). Với các lời tuyên bố này, Chúa Giêsu giảng dạy giáo lý về hai con đường: con đường sống thật và con đường chết thật. Không có con đường trung lập: ai không hướng tới sự sống muôn đời sẽ hướng tới sự chết muôn đời, giống như người quay lưng lại ánh sáng thì sẽ tự đi vào trong bóng tối. 

“Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em” (Lc 6:20). Phúc thật này là nền tảng của tất cả các phúc thật khác. Thánh Mátthêu nói rõ về sự nghèo khó này là: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5: 3), vì người có tâm hồn nghèo khó là người không coi bất cứ thứ gì ở đời này là quá quan trọng, là giá trị duy nhất, phải chiếm đoạt bằng mọi giá, kề cả những thủ đoạn gây hại cho nhiều người khác. Những kẻ nghèo khó như thế biết rằng sự giầu có thực sự không thể chỉ giới hạn ở cuộc sống phù vân này, nhưng nó nằm ở Nước Vĩnh Cửu của Thiên Chúa, khi người ta biết mở lòng đón nhận ơn ban đó. Những kẻ nghèo khó sẽ nhận ra điều mình phải đói khát: không phải của cải vật chất, mà là Lời Chúa; không phải quyền lực, mà công lý và tình yêu. Những kẻ nghèo khó biết khóc trước những nỗi đau khổ của những người anh chị em khác trong trần thế. Những kẻ nghèo khó biết rằng tất cả của cải của mình là món quà từ Thiên Chúa. Tất cả những giá trị vượt thời gian này không hề giống, thậm chí còn ngược lại những suy nghĩ coi của cải vật chất, thú vui trần gian, danh vọng phàm nhân là những giá trị tuyệt đối, và vì thế những kẻ nghèo khó này sẽ bị thế gian hiểu lầm và ngược đãi: “Bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa” (Lc 6: 22).

“Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi!” (Lc 6:24). Lời than thở này cũng là cơ sở cho tất cả những lời than thở tiếp sau, bởi vì bất cứ ai giàu có và tự mãn, tự cho mình là đủ, khép mình trong cuộc sống hưởng thụ riêng tư, không biết dùng của cải của mình để phục vụ người khác, không khiêm tốn mở lòng đón nhận sứ điệp cứu độ từ trời cao, bên kia mọi sự đời, thì sẽ tự nhốt mình trong sự ích kỷ và rồi sẽ nhận ra sự bất hạnh của chính mình. “Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi. Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói. Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than” (Lc 6:24-25). Chúng ta được mời gọi hiểu rằng lời của Chúa Giêsu đưa chúng ta ra khỏi lối suy nghĩ thấp bé của phàm nhân, khỏi những chuẩn mực của thế gian, để thay đổi hoàn toàn các giá trị của mình. 

Chúa Giêsu có logic riêng của Ngài, vì Ngài đang nói về Vương quốc Thiên đàng, điều này thật khác với lý lẽ con người và không dễ chấp nhận. Nhưng chúng ta nên cẩn thận nghe kỹ Lời Chúa nói: “Phúc cho anh em khi vì Con Người…” (Lc 6: 22). Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, nói rằng: “Giáo hội không sợ nghèo đói, khinh miệt hay bách hại trong một xã hội thường bị thu hút bởi sự sung túc vật chất và quyền lực thế gian. Thánh Augustinô nhắc nhở chúng ta rằng chịu đựng những điều xấu xa này chẳng có ích gì, nhưng thực ra là chịu đựng chúng nhân danh Chúa Giêsu, không chỉ với một tâm hồn thanh thản mà còn với niềm vui” (Kinh Truyền Tin, quảng trường Thánh Phêrô, Chúa Nhật, 30 tháng 1 năm 2011). 

2. Chúng ta chọn theo ai?

“Phúc cho anh em khi vì Con Người...” nghĩa là gì? Là làm mọi sự vì Chúa, chọn theo Chúa trong mọi sự. Giống như Giêrêmia, trong bài đọc thứ hai, kêu gọi những người đương thời của ông đưa ra những lựa chọn quan trọng, vị ngôn sứ cũng đặt câu hỏi cho chúng ta ngày nay: chúng ta chọn theo ai, theo Chúa hay theo phàm nhân? Chọn cái chết trong hoang địa, hay chọn sự sống như cây trồng bên dòng nước? “Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời, lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa, và lòng dạ xa rời Chúa! Người đó sẽ như bụi cây trong hoang địa, chẳng được thấy hạnh phúc bao giờ, hạnh phúc có đến cũng chẳng nhìn ra, nhưng sẽ ở mãi nơi đồng khô cỏ cháy, trong vùng đất mặn không một bóng người” (Gr 17: 5-6). Sự khôn ngoan duy nhất là chúng ta tin cậy vào Chúa, để Ngài hướng dẫn tư tưởng, lời nói, hành vi và tất cả con người sâu kín của chúng ta và qua đó ban cho chúng ta sự thanh thản ở đời này và chìa khóa mở vào sự sống vĩnh cửu mai sau. “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Chúa, và có Chúa làm chỗ nương thân. Người ấy như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái” (Gr 17: 7-8).

“Đối với tôi, sống là Chúa Kitô” (Philípphê 1: 21). Thánh Phaolô đã cảm nghiệm rất rõ điều này và đã tuyên bố như vậy. Chúa Kitô là người đầu tiên sống lại từ cõi chết, Đấng ban sự sống mới, sự sống vĩnh cửu, nghĩa là ban hạnh phúc đích thực cho mọi người. Giáo hội khẳng định rằng Chúa Giêsu: “Nhờ sự Phục Sinh của Ngài, mở đường cho chúng ta tiến vào cuộc sống mới. Trước hết, đây là sự công chính hoá, phục hồi chúng ta trong ân sủng của Thiên Chúa, để ‘cũng như Chúa Kitô đã được sống lại từ cõi chết…, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới’ (Rm 6,4). Đời sống mới này cốt tại việc chiến thắng cái chết của tội lỗi, và việc tham dự mới vào ân sủng” (GLHTCG, số 654). Tất nhiên Chúa Giêsu không áp đặt ý muốn của Ngài trên chúng ta, nhưng Ngài luôn tôn trọng sự tự do chọn lựa của chúng ta có bước theo Ngài hay không.

Đây là lý do tại sao, giữa những lo lắng và phiền muộn do những thử thách đủ loại, kể cả bởi những cuộc bách hại, Chúa Kitô mời gọi chúng ta kiên trì, tín thác vào Ngài, qua Chúa Giêsu Kitô, Con của Ngài, cố gắng xóa bỏ chúng khỏi cuộc sống của chúng ta. Tín thác vào Chúa Giêsu Kitô, chúng ta tin chắc rằng, nhờ Thánh Thần của Ngài ban sức mạnh, chúng ta sẽ đạt tới hạnh phúc thật.

Đức Bênêđíctô XVI huấn dụ: “Các Mối Phúc là một chương trình sống mới, để giải thoát bản thân khỏi những giá trị giả tạo của thế gian và mở lòng đón nhận những điều thiện hảo đích thực, hiện tại và tương lai. Thật vậy, khi Thiên Chúa an ủi, Ngài thỏa mãn cơn đói công chính, Ngài lau khô nước mắt của những người than khóc, điều đó có nghĩa là, ngoài việc đền bù cho từng người một cách thiết thực, Ngài còn mở ra Vương quốc Thiên đàng” (đã dẫn ở trên).

Không phải những thử thách tự chúng khiến người môn đệ hạnh phúc; nhưng là chính nhờ Chúa Kitô, với Ngài và trong Ngài mà chúng ta giúp nhau vượt qua những nghèo khó, đói khát, khóc lóc, oán ghét, khai trừ, và sỉ vả. Nhờ đó, lời mời gọi của Chúa Giêsu, dù có vẻ kỳ lạ, có thể thực sự hiểu được trong viễn cảnh hạnh phúc: “Vì Nước Thiên Chúa là của anh em…Vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng…Vì anh em sẽ được vui cười... Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Lc 6: 21-22).

Xin Chúa giải thoát chúng con khỏi cơn khát giàu sang, đừng chạy theo những lời hứa của thế gian mà đặt kỳ vọng vào của cải vật chất; Xin Chúa đừng để chúng con thỏa mãn với lời khen ngợi và tâng bốc của người đời, đừng đặt con người chúng con vào vinh quang thế gian nhưng vào sự sống đã được mạc khải trọn vẹn trong sự Phục Sinh của Chúa Kitô, như thánh Phaolô xác quyết trong bài đọc thứ hai: “Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Chúa Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người. Nhưng không phải thế! Chúa Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu” (1 Cr 15:19-20). mục lục

Phêrô Phạm Văn Trung.

HẠNH PHÚC THUỘC VỀ CHÚA

Cách đây vài tuần, trong Lễ đêm giao thừa mừng xuân Ất Tỵ, chúng ta đã nhận được phúc lành, thường được gọi là tám mối phúc thật của Chúa Giê-su mà Thánh Mat-thêu đã ghi chép trong bài giảng trên núi rồi truyền lại. Hôm nay, Thánh Lu-ca trong bài giảng trên đồng bằng đã trình bầy bốn mối phúc và bốn mối họa.

Tuy có sự khác biệt giữa hai bản văn; nhưng nói chung tất cả đều là giáo huấn của Đức Giê-su, do các Thánh sử biên soạn sao cho phù hợp với tình hình của các cộng đoàn do các ngài coi sóc, và dĩ nhiên những lời chúc phúc này cũng rất cần cho chúng ta nữa, và bốn mối họa mang tính răn đe và giáo huấn hơn là các lời chúc dữ!

 Như anh chị em đã biết, vào các thế kỷ đầu tiên, đời sống và các sinh hoạt tôn giáo của các tín hữu trong giai đoạn này gặp rất nhiều khó khăn. Họ bị khước từ, bắt bớ, giam cầm và rất nhiều người trong nhóm họ đã trải qua một cuộc sống rất cơ cực, nghèo đói, bị ngược đãi thậm chí còn bị giết chết.

Và như vậy, nhìn thoáng qua chúng ta có thể cho rằng các mối phúc trong Tin Mừng theo Thánh Lu-ca dường như dành cho nhửng người nghèo khổ và bị bách hại vì Chúa như hoàn cảnh của họ. Còn bốn mối họa như những lời cảnh tỉnh dành cho những kẻ giầu có, ăn trên ngồi chốc, bóc lột dân chúng biết mà thay đổi.

Với những suy nghĩ như thế, chúng ta có thể cho rằng Chúa Giê-su có cái nhìn khác với chúng ta. Hình như Chúa đang binh vực và chúc phúc cho những người nghèo khổ còn những ai giầu có, cuộc sống sung túc và dư thừa lại là các mầm họa. Thật ra, điều mà Chúa Giê-su muốn nhắm đến chính là hạnh phúc đích thật không nằm ở sự giầu sang vật chất mà là ở trong sự gắn bó với Thiên Chúa.

Trong tinh thần đó, chúng ta hãy tìm xem đâu là hạnh phúc thật mà áp dụng.

Tuy cuộc sống của chúng ta đã khá hơn xưa, không còn bị chèn ép hay bị giết vì danh Đức Ki-tô một cách công khai nữa; nhưng con người ngày nay lại đi tìm và xây dựng hạnh phúc cho cuộc sống của mình khác xa với những yêu sách của Tin Mừng.

Vì thế, giá trị các mối phúc của Đức Giê-su vẫn cần thiết. Và cũng chính vì lối tìm hạnh phúc của chúng ta khác với hạnh phúc Nước Trời nên chúng ta khó chấp nhận giáo huấn và những lời chúc phúc của Đức Giê-su cho nên mỗi khi nghe liền cảm thấy bị chói tai.

Nhìn vào thực tế, ai trong chúng ta lại không mong có nhiều của cải, ăn nên làm ra. Thế mà Chúa lại nói: “Phúc cho người nghèo khó”. Ai cũng mong cuộc sống bình an, thoải mái, không sợ bị theo dõi, bắt bớ. Thế mà Đức Giê-su lại nói: “Phúc cho các con khi bị bắt bớ”.

Vì thế, hạnh phúc đích thật vẫn chỉ là những ước mơ, mãi mãi là một khát vọng. Còn đau khổ lại chồng chất: Đau khổ vì nghèo đói, vì bệnh tật, vì chết chóc. Đau khổ vì thất bại, vì chia ly, vì những cám dỗ đè nặng.

Thật ra ai cũng biết rằng nghèo và khổ, đói và khát thường đi đôi với nhau. Sống trong cảnh nghèo, chúng ta mới thấy được các nỗi khó khăn. Và thật tâm mà nói thì không ai trong chúng ta cứ muốn sống mãi trong hoàn cảnh cơ cực như thế. Họ cần vươn lên, cố gắng vượt qua mọi gian nan để tìm cơ hội phát triển và khẳng định chính bản thân. Nhưng làm thế nào để vươn lên là cách ứng xử và lựa chọn của từng người.

Có người chọn các phương tiện bất chính, trái với lương tâm, thiếu đạo đức, thiếu công bằng … nói chung là họ sẵn sàng làm mọi sự để thoát khỏi cảnh nghèo. Và khi thoát khỏi cảnh cơ cực về mặt vật chất họ lại rơi vào một vũng lầy của tham lam, tư lợi và cuộc sống cũng chẳng được hạnh phúc. Đó không phải là cách lựa chọn đúng đắn.

Trái lại, nếu chúng ta biết chấp nhận cảnh nghèo, sống ngay thẳng và lương thiện rồi tìm cách vươn lên bằng các cố gắng của bản thân để bước đi từ những bước nhỏ nhất thì cho dù chúng ta không thành công, vẫn có thể thành nhân và được mọi người quí mến.

Hạnh phúc là ở đó, không tùy thuộc vào cảnh sống nhưng bằng chính thái độ trong các hoàn cảnh của cuộc sống khiến cho các phúc lành của Thiên Chúa được biểu lộ trong cách sống của mình.

Nói như thế, chúng ta không coi thường người nghèo và ca tụng những người có của; bởi vì giàu có cũng không là điều tất nhiên đem lại hạnh phúc cho con người. Tiền của có thể mua cho họ đủ thứ, nhưng họ khó mua được hạnh phúc đích thật. Dựa vào một số thống kê mà chúng ta biết được con số những người giàu đi tìm cái chết để giải thoát những nỗi cô đơn, trạng thái trầm cảm đông hơn bọn dân nghèo mà biết chấp nhận. Đối với ai giầu có thì hạnh phúc đích thật vẫn còn là một ước mơ mà họ phải nỗ lực tìm kiếm.

Vấn đề hạnh phúc chủ yếu ở cái tâm, ở tâm hồn; hạnh phúc không hoàn toàn lệ thuộc vào vật chất hay của cải mà người đó làm ra. Như vậy, mối phúc thứ nhất có thể nói là mối phúc căn bản, bao gồm các mối phúc khác là “Phúc cho ai có tâm hồn hay tinh thần nghèo khó”.

Nhìn lại lịch sử cứu độ, chúng ta nhận thấy ‘người nghèo’ được Thiên Chúa quan tâm nhiều hơn. Vì trong cảnh nghèo, con người có thể dễ làm bạn với Thiên Chúa hơn. Theo truyền thống của Thánh Kinh thì những “người nghèo của Thiên Chúa” không phải là người có đời sống vật chất khó khăn túng quẫn, mà là kẻ trước hết hoàn toàn tin tưởng phó thác cậy trông nơi Chúa, lấy Chúa làm gia nghiệp, và luôn luôn sống trong tình liên đới với anh em đồng loại.

Hơn thế nữa, căn cứ vào những lời giảng dậy của Đức Giêsu, chúng ta nhận ra rằng hoàn cảnh của “người nghèo của Thiên Chúa” là một cơ hội giúp họ nhận ra họ mới thật là người có phúc, là người may mắn, vì chính Thiên Chúa sẽ là hạnh phúc của họ.

Nói chung, các mối phúc thật xét về mặt nội dung thì cũng chỉ là mối phúc duy nhất: “Phúc cho những người sống tinh thần nghèo khó”. Và, chỉ có những người nào sống nghèo mới cảm nhận được sự cần thiết phải nương tựa vào Chúa như thế nào.

Thưa anh chị em,

Vì chúng ta, Đức Giê-su đã trở thành người nghèo nhất. Trong cảnh nghèo tột cùng đó, Người đã để cho quyền năng, sức mạnh và sự giầu có của Thiên Chúa được tỏ hiện. Như vậy, sau cùng các mối phúc hôm nay đều quy về một mối: Phúc cho ai có lối sống như Đức Giêsu.

Ước mong chúng ta có thể tuyên xưng hay nói với nhau rằng: những điều chúc phúc của Đức Giê-su trong các mối phúc thật mà tai chúng ta vừa nghe đã được ứng nghiệm trong cuộc sống của chúng mình. Một cách cụ thể, chúng ta được mời gọi sống bao dung, rộng lượng và chia sẻ hầu giúp đỡ những người cùng khốn.

Muốn được như thế, chúng ta phải biết nương tựa vào Chúa hơn là vào tiền bạc và địa vị. Từ đó, chúng ta biết chấp nhận những đau khổ với lòng tín thác, vì biết rằng Chúa luôn đồng hành với chúng ta. Sau cùng là sống đẹp lòng Chúa hơn là tìm kiếm danh vọng trần thế. Và như vậy, các mối phúc của Chúa Giê-su loan báo hôm nay không chỉ là những lời hứa hẹn cho tương lai mà còn là một lối sống của những ai cảm nhận được niềm vui và bình an đích thật ngay trong hiện tại.

Sau cùng, xin Chúa giúp chúng ta biết đặt trọn niềm tin vào Người, để dù giàu hay nghèo, vui hay buồn, chúng ta vẫn luôn tìm thấy hạnh phúc đích thực trong tình yêu của Thiên Chúa. Amen! mục lục

Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

CON ĐƯỜNG HẠNH PHÚC

Đời sống mỗi người là một con đường, vì sống là đi, ai sống cũng phải đi, nhưng đi đâu, đến đâu, về đâu để lòng không hối tiếc, để đời không vô ích, vô vị thì chưa hẳn ai cũng biết.

Nhưng con người biết gì khi đi trên đường đời?

Thưa biết mình cần hạnh phúc, biết đích tới của con đường mình đi là hạnh phúc, biết mục đích phải đạt của cuộc sống là hạnh phúc. Thế nên, ai cũng gặp nhau ở khắc khoải hạnh phúc, cùng khao khát một đời vui, và chung một ước mơ sống  đời an lành.

Thiên Chúa cũng khắc khoải, thao thức và ước mong con người hạnh phúc, vì Thiên Chúa tạo dựng con người để con người được  hạnh phúc trong Ngài và với Ngài, vì Ngài không dựng nên con người do căm phẫn, thịnh nộ, giận dữ con người, nhưng vì yêu con người vô cùng và đến cùng: yêu vô cùng là yêu không giới hạn, và vô điều kiện; yêu đến cùng là  không bao giờ nguôi ngoai, nhàm chán, mệt mỏi trong tình yêu.

Vì yêu nên Ngài muốn con người hạnh phúc, vì hạnh phúc là hoa trái tất yếu của tình yêu, như hai người càng tha thiết yêu nhau, họ càng đắm đuối  hạnh phúc trong tình yêu cho nhau. Và vì yêu, Thiên Chúa muốn con người chọn con đường hạnh phúc thật, bên cạnh nhiều con đường mang dáng vẻ hạnh phúc nhưng kỳ thực là đường mang nhiều rủi ro dẫn đến bất hạnh.

Nhưng con đường hạnh phúc được Thiên Chúa mở ra và đề nghị con người bước vào là con đường nào?

Trong Cựu Ước, ngôn sứ Giêrêmia đã mô tả con đường hạnh phúc Đức Chúa muốn dân Ngài đi. Đó là con đường đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa, vì chỉ con đường tín thác vào Thiên Chúa Giavê mới bảo đảm hạnh phúc đích thực, bởi  người không đặt tin tưởng ở Thiên Chúa, nhưng gắn bó, bám víu vào người đời sẽ “như bụi cây trong hoang địa chẳng được thấy hạnh phúc bao giờ, hạnh phúc có đến cũng chẳng nhìn ra, nhưng sẽ ở mãi nơi đồng khô cỏ cháy, trong vùng đất mặn không một bóng người” (Gr 17,6). Trái lại, người tuyệt đối tin vào Thiên Chúa “như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái” (Gr 17,8).

Đến trong thế gian, Đức Giêsu cũng không chỉ cho chúng ta con đường hạnh phúc nào khác, ngoài con đường của Thiên Chúa Giavê mà các ngôn sứ đã loan báo trong Cựu Ước được Tin Mừng Luca tường thuật rất chi tiết:

1/ Con đường Hạnh Phúc cho mọi người:

Hôm ấy, Đức Giêsu từ trên núi xuống, “Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, đông đảo môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giuđa, Giêrusalem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xiđôn đến để nghe Người giảng và để được chữa lành bệnh tật” (Lc 6, 17-18).

Như thế, con đường hạnh phúc Ngài sắp công bố sẽ không chỉ dành cho một số người, hay một thành phần nào đó, nhưng cho tất cả mọi người, bất kể là môn đệ hay người bàng quan, xa lạ, thành thị, trí thức hay dân dã, cùng đinh… , vì chỉ duy  một con đường của Tin Mừng mới đem lại và bảo đảm hạnh phúc đích thực cho mọi người.

2/ Con đường  Vượt Qua:

Trước hết, con đường hạnh phúc mà Đức Giêsu mở ra cho nhân loại không là con đường vắng bóng nước mắt của  nghèo khó, đói khát, đau khổ, nhục nhằn, bị oán ghét,  sỉ vả, và  “xóa tên  như đồ xấu xa” (x. Lc 6,20-22), vì đường trần gian do tội lỗi lọt vào đã mọc đầy gai góc bất hạnh, nhưng là con đường Vượt Qua, nghiã là những đau khổ, vất vả, gian nan trên đường đời không là đích đến, là số phận không thể thay đổi, là bản án chung thân, nhất là Thiên Chúa không chủ trương, cũng không là nguyên nhân của những  đau khổ, bất hạnh con người phải chịu ấy, trái lại, Ngài đến để mọi người được hạnh phúc, để tất cả những cay đắng, nhọc nhằn của kiếp người  được hóa giải và những bất hạnh của con người chỉ còn  là “điểm mốc phải vượt qua” để đi vào hạnh phúc, bằng tuyệt đối tín thác  vào Thiên Chúa.

Chính niềm tín thác ở Thiên Chúa là sức mạnh cho phép chúng ta tung người lên để vượt qua những thử thách của thân phận người, vượt qua những thời gian, thời điểm đầy khó khăn do bệnh tật, nghèo đói, thất nghiệp, thất tình, sa cơ thất thế … như Đức Giêsu đã Vượt Qua đau khổ và sự chết để sống lại vinh quang. Chính trong Đức Giêsu phục sinh, Đấng đã làm người và cùng con người chia sẻ thân phận người, mà niềm hy vọng Vượt Qua từ bất hạnh của đời này đến hạnh phúc  trong Thiên Chúa của chúng ta được bảo đảm (x. 1 Cr 15, 12-20).

3/ Con đường vượt qua cái tôi, từ bỏ chính mình:

Như ngôn sứ Giêrêmia, Đức Giêsu cho chúng ta thấy có hai con đường:

a) Một con đường dẫn đến bất hạnh khi đi tìm thoả mãn những đòi hỏi của “cái tôi” như quyền thế, vinh quang, của cải, dục vọng xấu:

Sở dĩ con đường tìm cái tôi, quy chiếu, hướng về về bản thân sẽ dẫn đến đích điểm là  bất hạnh, dù có đạt những hanh phúc nhất thời, vì mục đích của con đường ấy không là gì khác ngoài cái tôi nhiều giới hạn, cái tôi nhỏ bé, chật hẹp vì  đóng chặt, khép kín trước Thiên Chúa và tha nhân, cái tôi khuyết điểm, thiếu sót, lỗi lầm vì bản chất bất toàn của con người, nhất là cái tôi mong manh, chóng vánh như “hoa sớm nở tối tàn” vì sẽ phải chết.

b) Một con đường vượt qua chính mình để đi vào hạnh phúc bao la vô tận của Thiên Chúa:

Đó là con đường  tin tưởng và hy vọng ở Thiên Chúa : tin vào Chúa là Đấng trung tín với lời  hứa Nước Thiên Chúa cho những ai nghèo khó, hứa cho “thoả dạ no lòng” những ai đói khát, hứa niềm vui bất tận cho những ai bây giờ phải khóc lóc, hứa phần thưởng lớn lao trên trời cho những ai bị sỉ nhục, bách hại vì Nước trời (x. Lc Lc 6, 20-22).

Sở dĩ con đường tin vào Chúa và hy vọng vào Lời Hứa của Ngài là con đường hạnh phúc thật, vì con đường ấy không dừng lại ở phận người bất toàn, và phải chết, nhưng là con đường vượt qua những giới hạn, những nhất thời, hư hao, mất mát để đi vào bao la vô tận, đạt đến vô cùng, đời đời, tuyệt đối là chính Thiên Chúa. Và chỉ trong Thiên Chúa, Nguồn Hạnh Phúc bất tận và tuyệt vời, chúng ta mới “no lòng thoả dạ” khát vọng đời đời hạnh phúc. mục lục

Jorathe Nắng Tím  

PHÚC HỌA BỞI ĐÂU?

Phụng vụ hôm nay trình bày cho ta một trang Tin Mừng nổi tiếng: các mối Phúc thật theo truyền bản Lu-ca. Nguyên thủy của diễn từ này, Đại Hiến chương đích thật của Ki-tô giáo, có lẽ là một loạt những lời Đức Giê-su đã nói trong nhiều hoàn cảnh khác nhau nhưng sau đó được “sưu tập” lại. Nó là sự tổng hợp dung mạo tinh thần luân lý của các môn đệ Đấng Ki-tô, là lời kêu gọi triệt để ngỏ với những ai đã chọn theo Đức Giê-su lẫn Nước Trời và giờ đây phải bày tỏ lối sống của mình như tân tạo vật.

Các mối phúc của Lu-ca nổi bật bởi tính vắn gọn của chúng (4 so với 9 trong Mát-thêu) và được cân bằng bởi 4 mối họa vắng bóng trong tác giả đầu, bởi đại từ “anh em” (hay “các ngươi”) trực tiếp thốt ra cho các thính giả, khác với giọng điệu chung “Phúc thay ai...” của Mát-thêu, bởi việc nhấn mạnh đến hoàn cảnh xã hội cụ thể của các thính giả. Nếu những “anh em” này ở trong hoàn cảnh nghèo khó, đói khát, khóc lóc và bị bách hại, thì lúc đó mối phúc của Đức Giê-su dành cho họ. Nếu ngược lại, họ nằm trong hoàn cảnh đối nghịch, thì dù có tự gọi là môn đệ và được thế gian coi như bạn hữu và khen là “có phúc”, họ vẫn ở dưới lời đe dọa của tiếng “khốn cho các ngươi.”

PHÚC VÌ CÓ NƯỚC TRỜI

Như trong Mát-thêu, mối phúc cốt lõi xác định và bao trùm các mối phúc khác là mối phúc khó nghèo. Hiển nhiên nó gợi nhớ hạng “người nghèo của Đức Chúa” thời Cựu Ước, hạng được xác nhận cách sống động trong các bài ca của Ma-ri-a, Da-ca-ri-a và Si-mê-ôn. Họ biểu trưng cho một thái độ cá nhân tổng quát: dẫu gặp nhiều nghịch cảnh trong cuộc sống, dẫu cảm nghiệm tính cách bi thảm của niềm hy vọng vào Đấng Vô hình, họ vẫn duy trì nguyên vẹn niềm tin vào Thiên Chúa của các lời hứa, vào Đấng Mê-si-a và Vương quốc tương lai. Được giải thoát khỏi nỗi thất vọng, họ cũng xa thói kiêu căng tự mãn lẫn óc cuồng tín cố chấp, và như thế trở thành “những người công chính bởi đức tin” (kiểu nói của Phao-lô).

Dẫu sao, theo những chủ đề thường thấy trong Lu-ca, họ cũng là những người nghèo về mặt xã hội: những kẻ bị thua thiệt, bị gạt ra bên lề, bị áp bức, bị khinh bỉ, bị tước khỏi mọi quyền lợi dân sự. Đức Giê-su tung ra sứ điệp của Người cho chính họ, tỏ lòng quan tâm đến chính họ. Bằng không thì niềm hy vọng và lời mời xây dựng Nước Trời thiếu thực chất.

Người bảo họ “có phúc vì Nước Thiên Chúa là của họ.” Điều ấy có nghĩa gì? Phải chăng Đức Giê-su hứa hẹn cho họ niềm an ủi và sự bù trừ trên Thiên Đàng tương lai? Rất đúng, nhưng nếu chỉ hiểu theo nghĩa đó thôi thì ta quên mất thì hiện tại của động từ “là” (“là của” chứ không phải “sẽ là của anh em”) và thiên hạ sẽ có lý do để bảo “tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ.” Có lẽ phải hiểu thêm rằng: những người nghèo (bao giờ cũng đầy rẫy trên trần gian) luôn gặp may vì có Giáo Hội (là Nước Trời dưới thế) luôn bên cạnh họ. Đức Giê-su đã lập ra Giáo Hội là để giúp họ được làm con người trước khi làm con Chúa. Họ hãy vui lên vì có một tổ chức mạnh mẽ sẵn sàng lên tiếng bênh vực, can thiệp, đấu tranh giải thoát cho họ khỏi mọi áp bức về chính trị, kinh tế, luân lý, đồng thời khỏi mọi kềm tỏa của thần chết và tội lỗi.

Đó là điều mà những mục tử chân chính mọi thời vẫn làm, điển hình là các vị Giáo hoàng thời hiện đại với những thông điệp hay hành động về xã hội (đặc biệt là Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II, người đã cùng với tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan và lãnh tụ công đoàn Ba-lan Lech Walesa làm chập mạch toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu năm 1991); là các Đức Giám mục Helder Camara và Oscar Romero bên Nam Mỹ (Đức Cha Romero vì thế bị ám sát năm 1980 và nay đã được phong thánh); gần ta thì có Đức Hồng y Jaime Sin (+2005) bên Phi-lip-pin, người đã cùng với 500.000 tín hữu thực hiện cuộc xuống đường mang tên “tuần hành Giê-ri-cô” nhằm lật đổ Joseph Estrada, một tổng thống tham nhũng và đồi bại đầu năm 2001, rồi có Đức Hồng y Giuse Trần Nhật Quân bên Hong Kong luôn lên tiếng phê phán nhà cầm quyền Hoa Lục và do đó gặp vô vàn khó khăn.

Chớ cho đấy là làm chính trị, vì Giáo Hội không tranh đấu cho kẻ nghèo đế biến Công giáo thành quốc giáo, các chủ chăn không chống lại một chế độ áp bức để giành ghế các thủ lãnh chính trị. Giáo Hội hiểu tự do con người là tự do toàn diện và ở đâu có áp bức, dù dưới hình thức nào (kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo...) thì Giáo Hội, đặc biệt qua các chủ chăn, có bổn phận đấu tranh (dĩ nhiên bằng đường lối bất bạo động của Tin Mừng). Lập luận “đó là làm chính trị” chỉ biến Giáo Hội trở thành thuốc phiện ru ngủ như các chế độ độc tài vẫn mong ước. Các chủ chăn nào, vì muốn an thân mà không hoàn tất nhiệm vụ đòi hỏi gian khổ này, hãy suy niệm câu chuyện sau: Có người nằm mơ thấy một ông vua ở trên thiên đàng và một linh mục ở dưới hỏa ngục. Đang khi đương sự tự hỏi làm sao chuyện này có thể xảy ra được, thì một giọng nói vang lên bên tai: “Vị vua ở trên thiên đàng vì đã kính trọng các linh mục. Còn vị linh mục ở dưới hỏa ngục vì đã thỏa hiệp với các ông vua.”

HỌA VÌ CÓ CỦA CẢI

Sau bốn mối phúc là đến bốn mối họa. Xin lưu ý: đây không phải là những lời chúc dữ, cầu họa, nhưng chỉ là những lời than vãn thương hại giùm thôi. Dĩ nhiên khó có thể đón nhận cả tràng thương hại này: “Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê! Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười! Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng!”

Một kẻ không tin sẽ bỏ đi ngay. Một kẻ tin thì buộc phải đứng lại, ngần ngừ. Chúng ta cảm thấy đối với Đức Giê-su, các hạnh phúc và các tai họa lạ lùng này là một chuyện hiển nhiên, nhưng khi chúng ta nhìn cảnh mình sống, thì luật tiền bạc xem ra hiển nhiên hơn: phúc thay những người giàu, khốn thay những kẻ nghèo. Ai nấy đều nghĩ như vậy.

Ai nấy! Đó là vấn đề. Các Ki-tô hữu đầu tiên đã gây kinh ngạc và thành lạc lõng đến độ đức tin mới của họ thật châm chích trong các môi trường ngoại giáo. Nếu bây giờ mà Ki-tô hữu trở nên “như mọi người”, đức tin của họ chỉ có thể để cho lương dân nghi ngờ rồi phê bình: thay đổi được gì, việc tin vào Đức Giê-su? Thay đổi tất cả... khi ta tin vào Người. Chẳng hạn ở đây phải tin vào thái độ coi khinh tiền bạc của Đức Giê-su, phải bằng mọi giá đi vào thái độ coi khinh ấy.

Kể ra Người chẳng coi khinh tiền bạc “hữu ích”. Người tán đồng niềm vui của một phụ nữ tìm lại đồng bạc đã mất và khen lao những ai đã kinh doanh giỏi (x. Lc 19,16-17). Nhưng Người biết bao khinh bỉ tay phú hộ lo tích lũy mà tưởng vậy là đảm bảo được cuộc sống: “Đồ ngốc!” (Lc 12,20).

Cuộc sống không nằm ở đó. Mối họa giàu có là lầm tưởng cuộc sống dệt nên với những hạnh phúc nhỏ nhặt, cái mà Đức Giê-su gọi là “an ủi”: “Khốn thay cho các ngươi! Các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi!” Các ngươi có tiện nghi, an ninh và lòng quý mến rồi.

Nhưng các ngươi không có Nước Trời. Cuộc sống thật là ở chỗ đó: đi vào Nước Trời, xứ sở của tình yêu: “Xin Chúa lấy tình thương mà an ủi, theo lời đã hứa với tôi tớ Ngài đây.” Thánh vịnh 118,76 từng nói như vậy. Sự sống thật, vì đó chúng ta được dựng nên, là yêu mến Thiên Chúa và yêu mến anh em mình. Hiển nhiên phải tin vào điều nầy! Một cuộc sống Ki-tô hữu bắt đầu chính ở hành vi đức tin đó: tin Đức Giê-su khi Người nói hạnh phúc chính là lựa chọn tình yêu. Cuộc sống không nhất thiết là lựa chọn giữa hạnh phúc và bất hạnh, nhưng đúng hơn là chọn lựa giữa các hạnh phúc nhỏ bé có thể mua với hạnh phúc lớn lao là yêu mến.

Nhưng tại sao nói rằng tiền bạc làm cho chúng ta bỏ rơi Thiên Chúa và tình huynh đệ? Vì khi chờ đợi tất cả từ tiền bạc, ta quen với việc chẳng còn chờ gì từ Thiên Chúa và lui tới với Người càng ít đi. Và khi trở nên hám tiền thì khó mà chia sẻ: càng giàu bao nhiêu, càng cho ít bấy nhiêu, điều này quá rõ ràng. Càng bám vào địa vị bao nhiêu (nhất là địa vị đó được thế gian củng cố cho), càng ít dấn thân bấy nhiêu cho những kẻ bị áp bức bóc lột. Từ 1975 tới giờ, nhiều chủ chăn Việt Nam đã sang Hoa Kỳ, bà con bên đó đón tiếp chu đáo; và vị nào trở về Việt Nam được xem như thành công, ấy là kiếm được bộn tiền, đến nỗi lắm anh em Việt kiều về ăn Tết than phiền rằng không hiểu tại sao các vị sang bên đó đông quá, chắc “hành hương Rô-ma thì ít, mà hành hương Đô-la thì nhiều.” Thật là chua xót! Họ còn nói rằng các chủ chăn đi nước ngoài thoải mái hơn con chiên, thì làm sao có thể lên tiếng đòi tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền tại Việt Nam được? (Theo thư của một giáo dân gửi một linh mục).

Vậy thì vứt bỏ tiền bạc sao? Hay vứt bỏ Tin Mừng? Không, xin lặp lại rằng tiền bạc có thể hữu ích, nhưng vấn đề là giữ nó luôn hữu ích thực sự, chẳng giao phó cuộc đời ta cho nó, luôn có khả năng chế ngự lòng hám của. Tin Mừng là vậy!

Vì rất khó khăn, nên có thể nói cảnh nghèo khó cho ta lắm cơ may hơn để nên một đứa con đích thực của Tin Mừng. Nhưng chưa xong đâu. Cảnh nghèo khó vẫn có thể đẩy ta vào nhiều lo lắng và một lòng hám của có thể trục xuất ta khỏi Nước Trời cách chắc chắn y như cảnh sang giàu vậy. Không hoàn cảnh nào mang tính “tin mừng' cả, một chân lý đôi khi bị lãng quên. Dù hoàn cảnh rất xấu về mặt thiêng liêng hay tốt một cách lý tưởng, thì chính trái tim và chỉ trái tim mới đi đến chỗ sống Tin Mừng trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Khi một người giàu yêu mến Thiên Chúa (phẩm chất lời cầu nguyện của đương sự là bằng cớ) và bị thiêu đốt bởi tình huynh đệ (việc chia sẻ và dấn thân xã hội là chứng minh), đương sự đã chiến thắng một trong những cuộc chiến khó khăn nhất của đời Ki-tô hữu: làm cho tiền bạc thành ngoan ngoãn và cao thượng! mục lục

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi.

ĐÚNG ĐỊA CHỈ

Kitô hữu chúng ta không xa lạ gì với kinh Tám Mối Phúc Thật. Giáo Hội khẳng định đây chính là bản Hiến Chương Nước Trời. Thế nhưng để hiểu nội dung, ý nghĩa của tám mối phúc thì không hẳn dễ dàng. Tám mối phúc như Tin Mừng thánh Matthêu tường thuật hay là chỉ có bốn mối phúc theo Tin Mừng thánh Luca? Vì sao nghèo khó, sầu khổ, khóc than, bị oán ghét, bị sỉ vả mà lại là có phúc? Một cuộc cách mạng về bậc thang giá trị hay là những thách thức với quan niệm của người đời xưa nay?

Không sợ sai lầm để khẳng định rằng sự khổ hay cái nghèo tự chúng không phải là mối phúc. Nhưng chính người nghèo, người đau khổ là những đối tượng được chúc phúc. Họ được chúc phúc vì họ đang còn biết mong chờ, biết hy vọng một điều gì đó tốt lành hơn đến từ trên cao. Có thể nói rằng họ đã như vô phương tự cứu mình và cũng chẳng còn có thể cậy dựa vào các nguồn lực ở dưới trần gian này. Và khi Đấng cứu độ đến thi ân giáng phúc, thì họ là những người biết mở rộng tâm hồn để sẵn sàng đón nhận.

Chúng ta có thể hiểu điều này khi Chúa Giêsu sau khi chúc phúc cho những người nghèo, người bất hạnh, khốn khổ, thì Người đã báo họa những người bây giờ đang giàu có, vui cười, sung sướng, đang được mọi người ca tụng. Cái khốn của họ là ở thái độ tự thỏa mãn trong tình trạng đủ đầy sự may lành trần gian hiện có. Cái khốn của họ còn thể hiện nơi việc họ đặt niềm tin cậy vào những thiện hảo chóng qua đời này, vào quyền lực của thế gian này, khi cho rằng chúng chính là hạnh phúc thật, là nguồn bảo đảm hạnh phúc thật. Ngôn sứ Giêrêmia đã thẳng thừng: “Đức Chúa phán như sau: Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời, lấy sức phàm nhân là nơi nương tựa, và lòng dạ xa rời Đức Chúa! Người đó sẽ như bụi cây trong hoang địa chẳng được thấy hạnh phúc bao giờ…”(Gr 17,5-6).

Đã là hạnh phúc thật thì phải mãi mãi thường tồn. Những thực tại tốt đẹp ở trần gian này như của cải, chức quyền, bổng lộc…dù quý giá đến mấy thì cũng chỉ là những kho tàng “có thể bị ten sét, bị mối mọt đục khoét, bị mất trộm, mất cướp”(x.Mt 6,19-21). Cái hữu hạn thì không thể đem lại hạnh phúc đích thật. Chỉ có Thiên Chúa, Đấng là nguồn mọi thiện hảo, là Đấng vô thủy vô chung, không hề đổi thay, mới là nguồn của hạnh phúc thật.

Bỏ hình để bắt bóng là một trong những chước cám dỗ muôn đời với con người, nhất là với những người vốn có chút của tiền, danh vọng hay quyền lực trong tay. Có thể nói nhiều luật sĩ, biệt phái, thượng tế thời Chúa Giêsu đã rơi vào chước cám dỗ này. Họ tự hào về lòng đạo đức qua việc giữ luật tỉ mỉ cách bên ngoài của mình. Họ tự cao về sự hiểu biết, về vị thế của mình trước mặt đám đông dân chúng. Họ tự mãn về của cải vật chất và chức quyền đang có trong tay. Vì thế khi Chúa Cứu Thế đến thì họ chối từ Đấng là nguồn của hạnh phúc thật.

Hạnh phúc thật sẽ đến với những ai biết đặt niềm tin cậy vào Thiên Chúa. Giêrêmia khẳng định: “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chỗ nương thân. Người ấy như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái” (Gr 17,7-8).

Như thế khi chúc phúc cho người nghèo, người khốn khổ, bất hạnh…Chúa Giêsu xác nhận rằng họ đã biết đặt niềm tin cậy đúng địa chỉ, đó là vào chính Người. “Ẩn thân bên cạnh Chúa Trời, thì hơn tin cậy ở người trần gian…”(Tv 118,8). Khi đặt niềm tin cậy vào một ai đó thì chúng ta hoàn toàn giao phó cuộc đời của mình, tương lai của mình, số phận đời đời của mình cho người ấy. Động thái giao phó đời mình được biểu hiện bằng việc đi theo bước chân người mình tin cậy và sống theo lời người ấy chỉ dạy.

Đấng mà chúng ta tự nguyện đặt niềm tin cậy, tức là gắn bó và sống theo lời Người chỉ dạy đó là Giêsu Kitô. Chúa Kitô không chỉ là người có quyền năng trong lời nói và hành động mà Người còn bảy tỏ uy quyền tối thượng của Người bằng việc chiến thắng sự chết. Mầu nhiệm Chúa Phục Sinh là nền tảng để chúng ta đặt niềm tin cậy vào Người. Thánh Phaolô khẳng định: “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em…Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1Cr 15,17-19).

Đã là người thì ai cũng mong muốn và luôn kiếm tìm hạnh phúc. Tuy nhiên vẫn có nhiều người lầm tưởng tình trạng hạnh phúc là khi có đủ đầy tiện nghi vật chất, chức quyền, danh vọng hay được thỏa mãn một số nhu cầu nào đó. Cái ảo tưởng này sẽ tan vỡ, khi họ đối diện với những biến cố không may trong cuộc đời mà ít ai tránh được và nhất là khi đối diện với cánh cửa sự chết. Hạnh phúc đích thật của con người là tình trạng được hiệp thông với Đấng Tạo Thành như Chúa Giêsu diễn tả là “được Thiên Chúa xót thương, an ủi, được nhìn thấy Thiên Chúa...” Có thể nói đây là cảm nghiệm của các thánh nhân khi cận kề với giờ sinh ly tử biệt mà dân gian quen gọi là “sống thánh – chết lành”.

Không quá khó để đồng thuận với nhau rằng sắc đẹp không qua khỏi làn da, vinh hoa phú quý không theo chúng ta đi vào nấm mộ lạnh. Tuy nhiên biết sống tự do với chúng để hướng tìm hạnh phúc vĩnh tồn thì thật không mấy dễ dàng. Ứớc gì chúng ta biết xác tín đâu là hạnh phúc thật để rồi biết đặt niềm tin cậy đúng địa chỉ. Nếu đêm nay tôi giã từ thế gian này thì tôi sẽ đi về đâu? mục lục

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột.

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan