SUY NIỆM CHÚA NHẬT 8 THƯỜNG NIÊN – C
Lời Chúa: Hc 27,4-7; 1 Cr 15,54-58; Lc 6,39-45
THẬT THẾ, XEM QUẢ THÌ BIẾT CÂY! – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, CSsR
XÉT ĐOÁN VÀ KẾT ÁN – Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
CHỐNG THÓI GIẢ HÌNH – Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
XIN CHO CON BIẾT CON – Phêrô Phạm Văn Trung
NGHIÊM KHẮC VỚI MÌNH KHOAN DUNG VỚI NGƯỜI – Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
BIẾT CHÚA – BIẾT MÌNH – Lm. Gioan Phạm Duy Anh, S.J.
THẬT THẾ, XEM QUẢ THÌ BIẾT CÂY!
Trình thuật Tin Mừng hôm nay là một phần của bài giảng trên đồng bằng mà chúng ta đã suy niệm trong các tuần vừa qua. Các lời giảng dậy của Chúa hôm nay cũng là ‘khuôn vàng thước ngọc’, là ‘kim chỉ nam’ mà các môn đệ của Đức Giê-su cần noi theo.
Những lời giảng dậy của Đức Giê-su trong trình thuật hôm nay rất thực tế. Lời giảng dậy của Người không hoa mỹ, không dưạ vào thuật hùng biện. Bất cứ ai nghe Người giảng dậy, đều phải xét mình và nhận ra thân phận yêú đuối và mỏng dòn của mình. Xét mình trước rồi chúng ta sẽ không còn dám xoi mói đời tư của nhau nữa.
Bởi vì, có ai trong chúng ta đã hoàn thiên đâu! Tốt mặt này lại xấu mặt khác. Không ai là người hoàn hảo thì tại sao lại dám lên án nhau! Nói như thế không có nghĩa là chúng ta quên đi bổn phận hỗ trợ, giúp nhau cầu tiến, thăng hoa bản thân và sống sao cho tốt lành và thánh thiện hơn.
Chúng ta phải nhận ra một thưc tế là cái xà trong mắt mình lại không nhận ra, nhưng lại xét nét lôi ra cọng rác trong mắt tha nhân. Đây là một hiên tượng rất phổ thông và dễ bắt chước. Chúng ta nhìn ra các sai lỗi của người khác rất rõ, rồi vì thiếu bác ái và ghen tỵ nên chúng ta xét đoán và phê bình nhau.
Thế là chúng ta đã mặc nhiên ngồi vào vị trí phân xử và phán xét của Thiên Chúa và tách mình ra khỏi cuộc sống của những người chung quanh rồi lên án anh em mình.
Và giả như, có đôi lần chúng ta nhìn thấy các sai lỗi của mình thì lại có muôn ngàn lý do để bào chữa, như: nào thế này, tại thế kia, rồi nào ai muốn nhưng vì thân phận con người yếu đuối nên mới ra nông nỗi này… Nói chung, trách nhiệm ta làm lại không dám nhận, học theo khuôn và lối hành xử giống như Adam và Eva, đổ thừa cho nhau, sau cùng mình là người lại đi đổ thừa cho con rắn. Từ hình ảnh của Thiên Chúa nay biến thành loài thú vật.
Truyện kể mà tôi nghe đuợc sau đây có thể minh họa cho lối sống xét nét và chỉ nhìn thấy sai lỗi của anh em, câu chuyện như sau: Có một tu sĩ thuộc về hội dòng chuyên về cầu nguyện và chiêm niệm. Vào một ngay kia, có một thầy trẻ tuổi đã phạm một lỗi nặng nào đó. Khổ một điều đây không phải là lỗi riêng tư, không ai biết. Trái lại, các thầy khác đều biết nên họ đã họp lại, lấy danh nghĩa xây dựng để giúp cho thầy dòng có lỗi nói trên. Nhưng càng nói thì các thầy lại càng thấy tội của ông này không thể chấp nhận được, cần được sửa dậy, nhưng không một ai trong nhóm các thầy có quyền đó.
Cần có sự hiện diện của cha bề trên hay có thể gọi là Viện Phụ. Vì thế, họ sai người đi mời Viện phụ đến để tham dụ phiên họp sửa sai. Nhận đuợc lời yêu cầu, cha bề trên đến tham dự. Trước khi đi, ngài lấy một chiếc bao có nhiều lỗ thủng, rồi tự mình đổ cát lên đến miệng bao, đeo vào sau lưng rồi buớc đến chỗ họp. Cha đi đến đâu thì cát rơi vãi ra tới đó, rơi đầy dọc đường.
Các tu sĩ kia thấy như thế mới lên tiếng hỏi cha bề trên về ý nghĩa của việc ngài vừa làm. Cha từ tốn trả lời họ rằng: “Các sai phạm của tôi thì giống như hạt cát vừa rơi lại sau lưng trên đuờng tôi đến đây. Nào tôi có thấy nó đâu. Thế mà anh em lại bảo tôi ngồi xuống đây để kết tội người anh em mình, thì tôi nào dám. Nhưng vì nghe theo lời yêu câù của anh em, nên tôi đã đến!”
Nghe đến đó, các tu sĩ kia cảm thấy xấu hổ và nhận ra ý nghĩa việc làm của cha bề trên và không còn ai dám có ý định kết tội ông thầy trẻ tuổi kia nữa. Trái lại họ cùng ngồi lại hàn huyên và kể lại những trải nghiệm trong đời sống tu sĩ cho nhau nghe.
Câu chuyện nói trên minh họa cho lối sống phê phán mà Đức Giê-su thẳng thắn loại bỏ hôm nay. Người nói: hãy lấy cái xà trong mắt mình ra trước, rồi mới tính đến chuyện lấy cái rác khỏi mắt anh em. Nếu không lấy cái xà ra thì mắt chúng ta vẫn bị mù thì làm sao nhìn rõ mà phán đoán người khác được; chưa nói đến việc có thể vì thù ghét và ghen tương mà chúng ta thường xuyên hạch tội người khác để thỏa mãn lòng ích kỷ của mình.
Trong khi đó, Thiên Chúa biết rõ chúng ta hơn ta biết ta. Tội lỗi và sai phạm là một phần của cuộc sống. Nói một cách tích cực hơn là sai lỗi không làm chúng ta xa Chúa. Trái lại, qua đó chúng ta khám phá ra tình thương của Chúa vĩ đại và bao la hơn. Thân phận mỏng dòn và yêú đuối của con người là một cơ hội để nương tựa vào Chúa. Và chỉ có trong Chúa, chúng ta mới có thể đứng vững và trung thành cho đến hôm nay. Còn ngày mai ra sao, vẫn tuỳ thuộc vào sự tiếp nhận hồng ân của chúng ta với Thiên Chúa.
Chính vì không nhận ra khuyết điểm của bản thân, không nhìn ra cái xà trong mắt mình nên chúng ta mới bị mù, thế mà còn dám làm thầy mà dẫn dắt người khác thì còn ra thể thống gì nữa. Trong khi đó, chúng ta đã có một ông thầy để chúng ta noi gương, đó chính là Đức Giê-su. Người không hề thất vọng về các sai phạm của chúng ta.
Trái lại, Người luôn tìm mọi cách để hoán cải và mời gọi chúng ta trở về. Hành trình hoán cải và trở về này có thể kéo dài trong suốt cuộc sống. Có nghĩa là cuộc sống của chúng ta là một chuỗi ngày mà Chúa dùng để huấn luyện mình. Người quảng đại và ban ơn tha thứ cho các lỗi phạm của con người. Chính lòng thương xót của Người dành cho chúng ta lại trở thành dụng cụ để chúng ta thương xót và hướng dẫn người khác; bằng không chúng ta sẽ trở thành những người chỉ biết nói mà không biết làm, thậm chí việc làm của mình lại đi ngược với điều mà chúng ta nói.
Như vậy, Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta thanh luyện tâm hồn, có nghĩa là tôi đã tự xét mình trước khi xét đoán anh em mình hay không? Xét mình để nhận ra rằng lời nói và hành động của tôi có được xuất phát từ trái tim yêu thương và nhân hậu của Đức Chúa hay không? Khi trả lời cho các vấn nạn nói trên là lúc chúng ta để cho sức mạnh và giá trị của Lời Chúa phán trong bài Tin Mừng hôm nay, tác động trên lối sống và cách đối xử với nhau bằng cõi lòng của Đức Chúa.
Như thế đoán xét, phê bình và lên án không có chỗ đứng trong cuộc sống của người môn đệ. Trong Chúa, với Chúa chỉ có thiện hảo, chỉ có yêu thương và tha thứ làm gì có lên án hay đoán xét. Ước gì cuộc sống của chúng ta đươc xây dựng trên nền tảng của tha thứ và yêu thương của Đức Chúa. Vì chính Người là nguồn của suối yêu thương giúp chúng ta tha thứ, không đoán xét và lên án nhau nữa, Amen!
Lm. Yusse Mai Văn Thịnh, CSsR
Chúng ta thường quá độ lượng với chính mình, nhưng lại khắt khe với người khác, và cũng hay dùng cặp mắt để nhìn người khác chứ ít khi nhìn vào mình, là lý do khiến chúng ta ít thấy lỗi lầm của chính mình, nhưng lại dễ dàng nhận ra những sai sót của tha nhân.
Chúa Giêsu thật hài hước khi đưa ra hình ảnh cái rác và cái đà. Chúa muốn nhấn mạnh đến mối tương quan để làm nổi bật sự lố bịch của người có thói hay xét đoán người khác. Điểm nhấn ở đây không phải là chuyện lên án hay moi móc những lỗi lầm của anh em, nhưng là đòi mỗi chúng ta cần xét lại chính mình để phát hiện và loại bỏ những gì là bất toàn và lỗi tội. Biết xét mình và tự phê phán là mấu chốt cho những tương quan chân thật.
Chủ nghĩa giữ luật hình thức có thể che mắt người ta để rồi họ chỉ lo “xăm soi” để thấy những lỗi lầm nhỏ nhặt của người khác, còn chính họ lại đui mù trước những lầm lỗi nghiêm trọng của mình ; phê phán người khác mà không tự phê phán mình; đó là thứ mù quáng và giả hình mà Chúa Giêsu nhiều lần cảnh báo.
Nhìn thấy cái rác trong mắt anh em dễ hơn là thấy cây đà trong mắt mình. Không phải ta không thấy vướng mắt, nhưng là vì ta quá quảng đại với bản thân, thậm chí viện dẫn muôn ngàn lý do để cho rằng cái đà trong mắt ta chẳng có là gì trước mặt mọi người. Tình trạng đó đưa ta đến một khả năng rất dễ thấy cái rác trong mắt anh em mình.
Việc Chúa dạy chúng ta phải làm, “trước hết phải lấy cây đà khỏi mắt mình đi” (Lc 6, 42). Chúa muốn ta thay đổi cái nhìn, nhận ra mình cần được sửa đổi trước đã, để nhờ thay đổi bản thân, ta không còn thấy và muốn nhặt rác trong mắt anh em mình nữa. Đúng ra chúng ta phải cư xử nghiêm khác với bản thân mà rộng rãi với người khác, thì chúng ta lại hành động trái ngược lại, cư xử nghiêm khắc với người khác mà rộng rãi với chính bản thân mình.
Chúng ta phải lấy cái đà ra khỏi mắt chúng ta trước đã, rồi mới thấy mà lấy rác ra khỏi mắt anh em mình, thì trái lại, chúng ta chỉ thấy cái rác trong mắt anh em, mà quên đi cái đà còn đang nằm ở trong mắt của mình. Vì thế, điều quan trọng là phải biết nhìn nhận những sai lỗi khuyết điểm của mình, để rồi cố gắng uốn nắn, nỗ lực sửa đổi, nhờ đó thăng tiến bản thân, đổi mới cuộc đời.
Đức Hồng Y Verdier đã chia sẻ như sau: “kể từ khi làm Tổng Giám Mục Paris, tôi đã bị thiệt mất ba điều quí giá: một là không còn được đi lại tự do, vì công việc quá nhiều; hai là không có bạn bè, vì ai cũng sợ làm mất thời giờ của tôi; ba là không được nghe biết sự thật, vì kính nể nên ai cũng khen ngợi và tâng bốc tôi”. Vì kính nể nên ai cũng khen ngợi và tâng bốc, nên Đức Hồng Y Verdier sợ không nghe được sự thật, nhất là sự thật về con người của mình. Trái lại, để thấy được con người thật của mình, nhiều khi chúng ta lại phải cần đến những người hay chỉ trích chống đối chúng ta.
Thật lỗi phạm biết bao khi ta xét nét anh em! Ta quên rằng chính ta lắm khi còn tệ hơn thế nữa. Chính bản thân ta vẫn còn đầy những thói hư tật xấu. Khi lên án, chỉ trích anh em, làm như thể ta vô tội. Thực ra đó chỉ là cái đà lớn che đi con người của ta thôi. Tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa đối xử khoan hồng với giá máu châu báu của Chúa Kitô. Nhưng thử hỏi : Chúng ta đã được tha thứ điều gì? Hãy nhớ lại những điều tệ hại và xấu xa chính bản thân ta đã làm trong cuộc đời ta. Thế mà Thiên Chúa đã tha thứ tất cả. Chúa đã không khắt khe với ta, sao ta lại vượt quá cách Chúa đối xử đại lượng với chúng ta.
Con người thường có khuynh hướng thích được khen thưởng hơn là biết lắng nghe những lời thành thật giúp ta thanh luyện những tiêu cực, nhất là khi ta có chút ít quyền hành. Bởi thế, muốn biết rõ mình hơn, chúng ta lại càng cần phải có những kẻ can đảm, dám nói cho chúng ta biết sự thật, biết những điều lầm lỗi, để chúng ta sửa chữa và vươn lên.
Chắc chắn không ai muốn sống mà lúc nào cũng bị người khác để ý từng hành vi, cư chi. Vậy đừng làm cho người ta cái gì mình không ưa thích. Chúa nhắc nhớ chúng ta : “Hãy lấy cái đà trong mắt chúng ta trước, rồi lấy rác nơi anh em sau”(Lc 6, 42). Chúa sinh chúng ta ra mỗi người một vẻ để chúng ta đùm bọc nhau, sưa chữa nhau chứ không để hại nhau đâu. Hãy tha thứ và nhiệt tình phục vụ anh em, đừng xét đoán, đừng lên án. Đó là điều Chúa nhắn nhủ chúng ta hôm nay.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết nghe lời Chúa dạy và đem ra thực hành trong đời sống. Amen.
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
Cách đây hơn 30 năm, trên một tờ báo Liên Xô, người ta thấy một tranh biếm họa thế này. Có ba hàng người chồng lên nhau. Hàng dưới cùng mặc đồ công nhân, chân bước nhịp nhàng, tay trái dang ra cách hùng dũng, tay phải cầm cờ bay phấp phới. Hàng thứ hai, ở giữa, mặc đồ trí thức, cũng vung tay múa chân theo nhịp quân hành. Trên cùng là một con người, mặc y phục lãnh tụ, mắt đeo kiếng đen, tay phải cầm gậy của người mù còn tay trái đang sờ soạng trong không khí. Lạ một điều là hai hàng người dưới đều không có đầu. Bàn chân những người hàng giữa đặt ngay trên cổ những người hàng dưới, và bàn chân lãnh tụ trên cùng đặt ngay trên cổ hai người hàng giữa.
Nguyên Tắc
Như trong phụng vụ Chúa nhật tuần trước, hôm nay chúng ta được mời gọi tiếp tục (và kết thúc) “Diễn từ trên đồng bằng” của Lu-ca chương 6, một trang nêu bật chủ đề tình yêu lẫn lòng thương xót. Và như trong đoản văn tuần trước, chúng ta cũng có thể phát hiện hai nguyên tắc hướng dẫn việc giải thích bản văn hôm nay, một bản văn đặc biệt bàn đến cuộc chiến thống thói giả hình.
Nguyên tắc thứ nhất, nằm nơi c.39, được diễn tả qua một quy phạm khôn ngoan, một loại dụ ngôn mini hay một châm ngôn rút từ kho tàng phong phú của minh triết dân dã: “Mù mà lại dắt mù được sao? Lẽ nào cả hai lại không sa xuống hố?” Bức tranh châm biếm mang tính chính trị nói trên là một minh họa cho dụ ngôn mở đầu này hay có thể đã cảm hứng từ nó. Để làm hướng dẫn viên cho một kẻ khác, con người phải có trong chính mình một ánh sáng và một sự phong phú, bằng không sẽ trở nên nguyên nhân sụp đổ chẳng những cho mình mà còn cho tha nhân nữa.
Đấy là điều đã được ghi nhận trong sách Huấn ca, tác phẩm của một hiền nhân Cựu Ước (bài đọc thứ nhất: Hc 27,4-7). Sự mù quáng của con người tỏ lộ qua suy nghĩ riêng của mình như cái sàng sàng lúa và trấu: “Sàng rồi, trấu ở lại sàng. Nói ra, cái dở rõ ràng thấy ngay.” Giá trị đích thực của một con người chỉ được khám phá qua việc phân tích ngôn ngữ của đương sự, nghĩa là những phát biểu của đương sự ra bên ngoài: “Chớ vội khen, khi người chưa lên tiếng: muốn biết người phải nghe miệng nói năng.” Để kết luận, chúng ta có thể nói nguyên tắc thứ nhất Đức Giê-su phát biểu là lời mời gọi khám phá sự mù quáng vốn ở trong ta và giữa chúng ta, bằng cách đưa ra ánh sáng thực tại của các sự vật, đã bị bóc trần mọi sắp xếp và mọi vỏ bảo vệ.
Nguyên tắc thứ hai được chứa trong câu 40. Nó đưa ra một quy phạm chẳng những thuộc “lý trí” hay kinh nghiệm mà còn mang tính “thần học” nữa, hướng đến bình diện siêu nhiên: “Học trò không hơn thầy, có học hết chữ cũng chỉ bằng thầy mà thôi.” Hiển nhiên vị thầy Đức Giê-su ám chỉ chính là Người và môn đệ phải vươn tới mẫu gương cao cả đó ; như trong bài Tin Mừng Chúa nhật tuần trước, Đức Giê-su cũng đã dạy môn đệ “hãy có lòng nhân từ như Cha trên trời là Đấng nhân từ”. Thật thế, Thiên Chúa đã “tiền định cho chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Con của Người là Đức Ki-tô” (Rm 8,29).
Và như thế, một môn đệ chú tâm tới vị thầy ấy sẽ tự động trở nên một kẻ khiêm tốn, công chính, chân thành. Đương sự sẽ chẳng tiếm quyền phê phán người khác nhưng sẽ khiêm tốn “mặc lấy thân nô lệ” như Đức Ki-tô để cứu vãn anh em mình. Đương sự sẽ không nại đến phẩm chức của mình để được phục vụ song là tình nguyện phục vụ. Từ kho tàng lòng đương sự sẽ chẳng kéo ra độc dược nhưng là sự dịu dàng và hiền lành, từ cây cuộc đời đương sự sẽ không sinh ra trái đắng trái độc song là quả ngọt quả lành, như Đức Ki-tô đã làm suốt cuộc sống trần gian. Từ miệng lưỡi đương sự sẽ chẳng phát xuất những lời gây thương tổn hay sợ hãi nhưng là những lời “thần khí và sự sống.”
Như thế đoản văn biến thành một khúc ca tình yêu nhưng cũng là một bài biểu dương sự chân thành của con tim chống lại mọi kiêu căng và giả dối. Thần học gia Dietrich Bonhoeffer, chết tử đạo tại trại tập trung Đức quốc xã, trong tác phẩm Etica đã nhắc lại rằng “lòng tốt không phải là một tính chất của cuộc sống song là chính cuộc sống và tốt lành có nghĩa là sống.” Chính vì thế Đức Giê-su đã định nghĩa những kẻ giả hình là “mả tô vôi”, xác chết biết đi: họ tự lừa dối mình khi tỏ ra sống động linh hoạt, trong lúc thật ra, với một tâm hồn gian trá nhơ bẩn, họ chẳng sống tí nào.
Thực Tế
Với câu thứ ba (c. 41), Đức Giê-su đi vào áp dụng thực tế. “Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới?” Đây cũng là khía cạnh “bậc thầy minh triết” của Đức Giê-su, một quan sát viên tuyệt vời, đầy hài hước và nghiêm nghị bổ ích. Người ta ít dám giải thích câu đó, nhưng vì tật sính phê bình rất thường gặp và nguy hiểm cho đời sống huynh đệ nên ta phải cần dừng lại để phân tích.
Đức Giê-su đang nói đến các tương quan giữa “anh em”, một từ được nhắc tới 4 lần trong 8 dòng. Tương quan trong đời sống lứa đôi, đời sống gia đình, trong các cộng đoàn đủ loại, các nhóm bạn hữu đủ kiểu... Lời cảnh cáo đi trước câu trên (“Mù mà lại dắt mù được sao?”) khiến ta nghĩ tới các lời khuyên dành cho những người có trách nhiệm. Thành thử đây chẳng phải là lời kêu gọi hãy nhắm mắt, nhưng là thay đổi cái nhìn.
Tự bản năng, cái nhìn của hữu trách có tính xoi mói. Người ta theo dõi (đôi lúc, than ôi, người ta rình mò kiểu mật thám gián điệp), người ta vạch lá tìm sâu, và tìm được là phê phán ào ào. Để làm nghề của mình theo Tin Mừng -không dễ- người hữu trách phải coi chừng cú đòn “lên lớp”: chúng ta rất thường tố cáo nơi kẻ khác các khuyết điểm của chính mình, những khuyết điểm lúc ấy trở thành lộ liễu kinh khủng: “Ổng trách tôi có cô bạn nhỏ, một cậu thanh niên tâm sự với vị Linh mục về cha mình, nhưng ổng lại có bồ nhí!” Nhiều chủ chăn trách con chiên thiếu tinh thần vâng lời, trong lúc chính mình lại chiều theo áp lực của thế quyền thay vì vâng phục các nguyên tắc của Tin Mừng và Giáo Hội.
Vậy phải hoàn hảo đã mới được lấy cái rác nơi anh em ra? Không, chắc chắn không, nhưng ít nhất chớ bao giờ quên những cái xà của chính mình. Một bà mẹ quở mắng đứa con gái điện thoại quá dài, đang khi chính bà ở cả giờ bên máy! Đó là loại chuyện làm xộc xệch bất cứ cuộc sống chung nào.
“Lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồ sẽ thấy rõ.” Nếu lấy cái xà không luôn luôn dễ, thì việc ý thức về nó chắc chắn sẽ giúp cái nhìn của ta nên chân thực hơn. Chúng ta có lẽ sẽ thấy cái rác đúng là cái rác, chẳng quan trọng gì. Hoặc sẽ thấy rằng trong trường hợp nào đó đối với con người nào đó, không nhất thiết phải tự phong mình làm những nhà kiểm duyệt, việc này sẽ loại bỏ những phê bình khó chịu lẫn vô ý tứ. Các bà cụ thời nay, ví dụ vậy, đã hiểu rằng tốt nhất là không nên bận tâm tới các cọng rác trong lũ cháu của họ, nhất là khi cha mẹ chúng có đó!
Nhưng bà cụ cũng như bất cứ ai không được trở thành câm như hến. Trách nhiệm đích thực của chúng ta, hay đơn giản là ưu tư giúp đỡ của chúng ta, buộc chúng ta phải đưa ra “nhiều nhận xét”. Nếu phản ứng của chúng ta là thẩm tra trước các khuyết điểm của mình, cung giọng của chúng ta luôn khiêm tốt hơn và chúng ta sẽ có thể... cùng nhau tiến bộ.
Sâu xa hơn, câu chuyện cái xà đưa chúng ta về lại tình trạng con tim chúng ta. “Không có cây nào tốt mà lại sinh quả sâu,” Đức Giê-su nói. Những kẻ phê phán, những kẻ nói xấu, những kẻ vu khống, những kẻ điên cuồng tìm cái rác nhỏ nhất, đều có ác tâm cả. Ngược lại, cũng chẳng ra gì một vài kiểu “nhân từ” hơi buông lỏng, dửng dưng, hoặc quá mù quáng. Rõ ràng là xem ra không thể vừa nhân từ vừa ngu dốt. Ta có thể xin Thiên Chúa ban bí quyết về điều này. Làm sao vừa sáng suốt vừa nhân hậu? Câu trả lời có lẽ nằm nơi câu nói của một nhà thần nghiệm người Anh thường được nhiều tác giả trích dẫn: “Thiên Chúa không nhìn cái bạn đã hay đang là, nhưng nhìn cái bạn muốn là.”
Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
Chúng ta có khuynh hướng để mắt đến những hành động của người khác, tốt cũng như xấu, nhất là soi mói những thói xấu của người khác, rồi sau đó đóng vai trò thẩm phán xét đoán họ. “Medice, cura te ipsum – Này thầy thuốc, hãy tự chữa chính mình.” Đó là câu tục ngữ La tinh cổ xưa ám chỉ sự đạo đức giả của những người muốn chỉ ra khuyết điểm của người khác mà không chú ý đến khuyết điểm của chính mình trước. Đúng ra để xét đoán người khác, chúng ta phải biết mình như thế nào trước đã. Trong đoạn Tin Mừng mà chúng ta đọc hôm nay, trước tiên Chúa Giêsu đặt ra cho chúng ta một câu hỏi: “Mù mà lại dắt mù được sao?” (Lc 6:39). Điều này có thể khiến người ta buồn cười vì, như chính Ngài trả lời sau đó: “Lẽ nào cả hai lại không sa xuống hố?” (Lc 6:39). Phải chăng đôi khi chúng ta cũng giống như những người mù nhưng lại thích chỉ đường cho người khác. Thật ra, đây là những lời dạy minh họa cho cách sống theo “Carta Magna - Hiến Chương Nước Trời - các Mối Phúc Thật ” của Chúa Giêsu, mà Phụng Vụ Hội Thánh cho chúng ta nghe từ hai tuần trước, khi chúng ta bắt đầu đọc chương 6 của sách Tin Mừng Luca.
1. Chính mình hãy sống tốt đẹp trước đã
Hôm nay, Chúa Giêsu muốn chúng ta suy ngẫm về tầm quan trọng của việc sống chứng tá bằng một cuộc sống gương mẫu. Người Việt ta thường nói “Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo.” Đức Thánh Cha Phaolô VI cũng đã nhấn mạnh giá trị của đời sống chứng nhân trong việc loan báo Tin Mừng như sau: “Người thời nay tin vào các chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có tin vào thầy dạy là vì các thầy dạy ấy đã là những chứng nhân” (Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, diễn từ với các thành viên Hội đồng Giáo hoàng về Giáo dân (2/10/1974): AAS 66 (1974), tr. 568, và Tông huấn Evangelii Nuntiandi, số 41).
Chúng ta đừng quên rằng trong Kitô giáo, tất cả chúng ta - không có ngoại lệ - đều là người có sứ vụ rao giảng, vì Bí tích Rửa tội trao cho chúng ta quyền tham gia vào chức tư tế phổ quát của Chúa Kitô. Tất cả chúng ta đều đã nhận được chức tư tế này khi chịu phép rửa tội. Chức tư tế này, ngoài sứ mệnh thánh hóa và cai quản hoặc lãnh đạo, còn bao gồm chức năng rao giảng, chỉ bảo cho người khác. Thánh Phaolô nhắn nhủ các tín hữu Côlôxê: “Anh em hãy dạy dỗ khuyên bảo nhau với tất cả sự khôn ngoan” (Cl 3: 26). Theo đó, Kinh Thương Người có mười bốn mối dạy chúng ta: “Thứ nhất, lấy lời lành mà khuyên người. Thứ hai, mở dậy kẻ mê muội”. Vậy thì chúng ta dạy dỗ khuyên bảo nhau theo chuẩn mực nào?
Đối với những Kitô hữu chúng ta hôm nay, những gì người Do Thái và những Kitô hữu đầu tiên nói về Chúa Giêsu phải là điều làm chúng ta suy ngẫm: “Tất cả những việc Chúa Giêsu làm và những điều Ngài dạy” (Công vụ 1:1) “Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả” (Mc 7:37). Kitô hữu cần có nhận thức đặc biệt sâu sắc về điều này: “Mù mà lại dắt mù được sao?” (Lc 6:39). Chúa Giêsu đã nói rất thẳng thắn rằng không được xét đoán lẫn nhau, nếu không người ta cũng sẽ bị xét đoán: “Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán” (Lc 6:37). Ngài không có ý nói rằng người ta không cần phân định để nhận ra đâu là tội lỗi, kể cả của người khác. Tuy nhiên điều đó hoàn toàn khác với việc chúng ta ngồi vào vị trí thẩm phán của Thiên Chúa: “Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án” (Lc 6:37). Các Kitô hữu không được lên án người khác trong khi không xem lại con người và cuộc sống của chính mình. Chúng ta không có tư cách gì để coi mình là công chính, là vô tội trước mặt Thiên Chúa và người ta. Việc phán xét tội lỗi của người khác trong khi phớt lờ tội lỗi của chính mình cũng vô lý như việc nói với ai đó: “Này anh, hãy để tôi lấy cái rác trong con mắt anh ra, trong khi chính mình lại không thấy cái xà trong con mắt của mình” (Lc 6: 42). Chúng ta cần phải hiểu biết chính mình, thanh tẩy cái nhìn, thanh tẩy tâm hồn trong sự ăn năn nhờ ơn Chúa giúp. Chỉ khi khiêm nhường nhìn nhận chính mình là kẻ tội lỗi nhờ cái nhìn yêu thương của Thiên Chúa thì chúng ta mới có thể cảm thông yêu thương và dịu dàng dẫn dắt người khác trên con đường noi gương Chúa Kitô. Chỉ khi biết rõ sự thật về bản thân mình, người ta mới có thể tự sửa đổi mình, rồi sau đó giúp anh chị em mình sửa đổi một cách chân thực.
Chúa Giêsu ghê tởm những kẻ đạo đức giả, những kẻ phán xét mà không có tình yêu thương và sự hiểu biết, những kẻ muốn được người khác nghĩ tốt cho mình mà không thực sự quan tâm đến lỗi lầm của mình. Đó là cái xà to lớn trong mắt kẻ đạo đức giả. Việc nhận ra và cố gắng từ bỏ tội lỗi trong cuộc sống của chính mình phải thực hiện trước khi có thể giúp người khác loại bỏ khuyết điểm của họ, bằng sự khiêm nhường và phục vụ: “Lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt người anh em” (Lc 6: 42). Nếu không, chúng ta sẽ trở thành kẻ giả hình đáng bị Chúa Giêsu lên án: “Hỡi kẻ đạo đức giả!’ (Lc 6: 42).
Nhờ ơn Chúa và quyết tâm, trong cầu nguyện khiêm hạ và kiên nhẫn, chúng ta có thể khử bỏ “lòng dạ xấu xa” trong chúng ta để trở nên “con người tốt” và trở thành gương mẫu khích lệ những người chung quanh: “Người tốt thì lấy ra cái tốt từ kho tàng tốt của lòng mình” (Lc 6: 45). Dù muốn hay không, bằng cách sống và cư xử của mình, chúng ta sẽ để lại ảnh hưởng, tốt hoặc xấu, trên những người chung quanh, ví dụ như ảnh hưởng của cha mẹ đối với con cái, của giáo viên đối với học sinh, của các quan chức chính quyền đối với người dân, ảnh hưởng của hàng xóm, của bạn bè, của đồng nghiệp, của đoàn thể giáo họ, của cộng đoàn giáo xứ, nhất là ảnh hưởng từ lời nói: “Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra” (Lc 6: 45).
2. Lời nói của chúng ta.
Lời nói có lẽ là một trong những dấu chỉ rõ ràng nhất về những gì trong cõi lòng và suy nghĩ của chúng ta. Trong bài đọc thứ nhất, sách Huấn ca chẩn đoán rõ ràng: “Sàng rồi, trấu ở lại sàng, nói ra, cái dở rõ ràng thấy ngay. Có thử lửa mới biết bình thợ gốm, nghe chuyện trò, biết ai rởm ai hay. Xem quả thì biết vườn cây, nghe lời miệng nói biết ngay lòng người. Chớ vội khen, khi người chưa lên tiếng: muốn biết người, phải nghe miệng nói năng” (Hc 27:4-7). Lời nói hằng ngày của chúng ta phản chiếu rõ ràng tâm tình và nghĩ suy của chúng ta. Chúng ta có được phép và nên nói hết mọi điều chúng ta muốn nói không? Lời nói của mỗi người chúng ta có mang lại niềm vui, ánh sáng và sự bình an của của Chúa Kitô, vốn dĩ cần ngự trong lòng chúng ta không? Hay chỉ là những lời đồn thổi vô căn cứ tuôn ra từ miệng chúng ta qua những câu chuyện tầm phào hoặc tệ hơn là những lời ác ý? Có thể thấy rằng các cuộc trò chuyện của chúng ta trong suốt cả ngày thường chỉ là những chuyện hời hợt và trần tục bị chi phối bởi sự say mê giàu có, ăn chơi hưởng thụ, hoặc những trò mua vui chốc lát. Dù chúng có thể là bình thường và không gây ra điều gì nghiêm trọng, chúng ta nên ít nói đi, im lặng suy ngẫm nhiều hơn, và tốt nhất là nói về Thiên Chúa và đời sống đức tin của chúng ta, bằng những lời bác ái và thánh thiện để xây dựng tâm hồn người khác. Thánh Giacôbê căn dặn: “Mỗi người phải mau nghe, đừng vội nói, và khoan giận” (Gc 1:19), “Ai cho mình đạo đức mà không kiềm chế miệng lưỡi, là tự dối lòng mình, vì đó chỉ là thứ đạo đức hão” (Gc 1:26).
Các cuộc trò chuyện thường ngày của chúng ta tự chúng không xấu, nhưng chúng có thể lấy mất nhiều thời gian vốn dĩ dành cho Thiên Chúa và dành cho sức sống tâm linh của chúng ta. Thánh Mátthêu cảnh báo mạnh mẽ: “Tôi nói cho các người hay: đến Ngày phán xét, người ta sẽ phải trả lời về mọi điều vô ích mình đã nói. Vì nhờ lời nói của anh mà anh sẽ được trắng án; và cũng tại lời nói của anh mà anh sẽ bị kết án” (Mt 12:36-37). Điều cần thiết là cố gắng biến lời nói và những cuộc trò chuyện hàng ngày của chúng ta thành chứng tá cho tình yêu sâu sắc của Chúa Kitô dành cho chúng ta, phản chiếu Lòng thương xót của Thiên Chúa sống động tuôn trào trong cuộc sống của chúng ta. Tác giả thánh vịnh 141 cầu xin: “Xin canh giữ miệng con, lạy Chúa, và trông chừng miệng lưỡi con” (Tv 141:3). Đây là cách để cho Thiên Chúa làm chủ lòng trí, cảm xúc và nghĩ suy của chúng ta, để bộc lộ sự thánh thiện của Ngài qua chúng ta, và mang lại sự thánh thiện cho người khác.
Chúa Giêsu mời gọi chúng ta suy ngẫm, xem xét lời nói của mình, để biết ai là chủ thực sự của chúng ta. Chỉ khi đặt mình dưới sự hướng dẫn của Ngài, chúng ta mới có thể, như lời giáo huấn trong bài đọc thứ nhất: “Theo đuổi sự công chính, rồi ra con sẽ đạt, con sẽ mặc lấy nó như tấm áo huy hoàng” (Hc 27:8) và trở thành: “Người tốt thì lấy ra cái tốt từ kho tàng tốt của lòng mình” (Lc 6:45).
Chúng ta cần đặt mình trước Thiên Chúa và tự hỏi: Thiên Chúa có là Thầy dạy của tôi không? Thiên Chúa có hướng dẫn cuộc sống, cách lựa chọn và hành động của tôi không? “Học trò không hơn thầy, có học hết chữ cũng chỉ bằng thầy mà thôi” (Lc 6:40). Hôm nay Chúa Kitô, Thầy dạy của chúng ta, muốn chúng ta xem xét lại những suy nghĩ, lời nói và hành động hình thành nên con người của chúng ta: “Thật vậy, xem quả thì biết cây” (Lc 6:44). Nếu chúng ta đang ở trong tình trạng: “Ở bụi gai, làm sao bẻ được vả, trong bụi rậm, làm gì hái được nho” (Lc 6: 44) thì xin cho chúng ta được như lời Thánh Phaolô, trong bài đọc thứ hai: “Tạ ơn Thiên Chúa, vì Ngài đã cho chúng ta chiến thắng nhờ Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Bởi vậy, anh em thân mến, anh em hãy kiên tâm bền chí, và càng ngày càng tích cực tham gia vào công việc của Chúa, vì biết rằng: trong Chúa, sự khó nhọc của anh em sẽ không trở nên vô ích” (1 Cr 15:54-58).
“Domine Iesu, noverim me, noverim te - Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết con, xin cho con biết Chúa”, để con suy tưởng, nói năng, và hành động vì vinh quang của Chúa, nhờ vậy chúng con được Chúa thánh hóa và mọi người nhận ra Chúa là Đấng cứu độ. Amen
Phêrô Phạm Văn Trung
NGHIÊM KHẮC VỚI MÌNH KHOAN DUNG VỚI NGƯỜI
Cách mà ta nhìn người khác phản ánh nội tâm của chính mình. Khi lòng mang nhiều tổn thương dễ cho rằng người đối diện chọc tức mình. Bản thân thèm khát của cải sẽ thấy khó chịu với ai dư dật. Tâm mà đầy sân hận, tỵ hìm, ganh ghét luôn thấy người khác công kích, chỉ trích, bới móc mình. Thiếu thành thật dễ nghĩ người bên cạnh sống giả, sống hình thức, sống che đậy...
Cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực đều khởi sinh từ nội tâm thiếu an bình, thiếu quân bình. Chính bởi tâm của bản thân bất ổn mà cuộc sống xung quanh nhiều loang lổ, nhiều vết loét, thậm chí toàn màu đen.
Chính bởi tâm tiêu cực, bi quan mà ta đánh mất cái nhìn trong sáng về thế giới, đánh mất những rung cảm hạnh phúc trước cuộc sống vốn đầy mầu nhiệm, không thiếu những an bình, tươi vui và đáng sống.
Người ta kể rằng: Một đôi vợ chồng vừa dọn nhà đến một khu phố mới. Mỗi sáng, khi thấy bà hàng xóm giặt và phơi những tấm khăn trải bàn, cô vợ hay lẩm bẩm: "Tấm vải bẩn thật". Điều lạ là người chồng vẫn nghe vợ nói mà không có bất cứ bình phẩm nào. Một thời gian, mọi sự tưởng đã quá quen, bỗng người vợ ngạc nhiên vì tấm vải của bà hàng xóm rất sạch. Cô thốt lên: "Ôi! Bây giờ bà ấy biết cách giặt khăn rồi. Nó trắng thế?". Người chồng đáp: "Không. Sáng nay anh dậy sớm và đã lau kính cửa sổ nhà mình đấy".
Rõ ràng, chúng ta không dành bất cứ khoảnh khắc nào để dừng lại chăm sóc nội tâm của chính mình, mà cứ mải rong ruổi theo những suy nghĩ đúng sai, phải quấy về cuộc đời và về người khác.
Điều ta cần làm ngay, là quay trở vào bên trong để nuôi dưỡng mảnh đất tâm hồn vốn đầy mây đen, chứ đừng chỉ nhìn bên ngoài mà lên án hay áp đặt mọi hoàn cảnh, mọi ngoại cảnh bằng cái nhìn cảm tính của bản thân.
Qua một loạt những lời dạy:
- Sao ngươi nhìn cái rác trong mắt anh em, còn cái đà trong chính mắt ngươi thì lại không thấy?
- Sao ngươi có thể nói với người anh em: ‘Này anh, hãy để tôi lấy cái rác trong con mắt anh’, trong khi chính ngươi không nhìn thấy cái đà trong mắt ngươi?
- Hỡi kẻ giả hình, hãy lấy cái đà ra khỏi mắt mình trước đã, rồi bấy giờ ngươi sẽ trông rõ để lấy cái rác khỏi mắt anh em ngươi.
- Cứ xem trái thì biết cây.
- Người hiền, bởi lòng tích chứa điều lành, nên phát xuất sự thiện; và kẻ dữ, bởi tích đầy lòng ác, nên phát xuất điều ác.
- Lòng đầy thì miệng mới nói ra.
Chúa Giêsu muốn chúng ta hãy luôn ghi tâm khắc cốt rằng:
- Khiêm nhường mới làm cho người ta trọn lành trọn tốt. Hãy từng bước dẹp bỏ thói ngạo mạn và kiêu ngạo, nhưng học bài học của sự khiêm nhường.
- Hãy luôn ghi nhớ, bản thân cũng như mọi anh chị em, không ai là không có thiếu sót, khuyết điểm và tội lỗi.
- Hãy học nơi Chúa lòng từ tâm, độ lượng, sự khoan thứ, không lên án, không soi mói, không tìm vết xấu, không mới móc...
- Hãy nhìn vào thiếu sót của mình để không lên án người khác, nhưng luôn biết học cách để yên cho người khác sống trong an bình.
- Hãy quý sự an bình của người khác như chính sự an bình của bản thân.
- Hãy luôn nhớ, chiến tranh không tấn công người ta tận ở đâu xa xôi, nhưng ngay trên chính cái lưỡi. Vì thế, muốn đánh giá hay nói xấu người khác, trước hết hãy lấy gương mà soi mặt mình.
- Nhận ra khuyết điểm, thiếu sót, tội lỗi dù của mình hay của anh chị em, thì điều hay nhất, quý nhất là hãy cầu nguyện để mọi người đều có sức mạnh, có sự can đảm để sửa chữa, để thống hối, để nên thánh thiện.
- Cầu nguyện luôn luôn cho mình và mọi người. Cầu nguyện là liều thuốc kháng tất cả những soi mói, chỉ trích, nói xấu, chê bai... Đừng quên bất cứ thời khắc nào, hoàn cảnh nào, biến cố hay thử thách nào mà không dừng lại bằng cầu nguyện để kéo ơn Chúa cho mình, cho mọi người, cho Giáo Hội và xã hội.
Không phải vì lỗi người khác mà thế giới màu đen, mà chính là cái nhìn xuất phát từ nội tâm ta. Nhìn bằng cái tâm có vấn đề, ta sẽ thấy bất cứ nơi đâu cũng toàn vấn đề, toàn sai trái, toàn bất an, toàn tổn thương, toàn mệt mỏi.
Mỗi phút để tâm đến chuyện tiêu cực của người khác, là mất đi mỗi phút vui tươi sống, năng lượng sống, tích cực sống mà không bao giờ có thể lấy lại.
Học nơi Chúa Giêsu tình yêu hy vọng mà Chúa dành cho người phụ nữ xức dầu bên chân Chúa, người phụ nữ ngoại tình, người trộm lành, hay tông đồ Phaolô..., để ta có cái nhìn khoan dung, hy vọng và nhân ái hơn với anh chị em, nhất là với ai mà xã hội xem là tội lỗi, xấu xa, khó cải tà quy chánh.
Còn chính mình, hãy luôn tỉnh thức để tránh xa cám dỗ. Hãy luôn cầu nguyện và dùng những phương thế đạo đức: xưng tội, rước lễ, làm việc lành phước đức, hãm mình, chay tịnh... để ngăn sự xấu, sự dữ lọt vào hồn.
Trên hết, hãy thực sự nghiêm khắc với bản thân và hãy thật khoan dung với anh chị em.
Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
Các bạn thân mến!
Tôn Tử Binh Pháp có câu [1]: “Biết người biết ta trăm trận trăm thắng.” Còn Socrates thì cho rằng: “Người hỡi hãy biết mình.” Theo bạn, biết mình có dễ không? Biết là nỗi trăn trở của con người trong mọi thời. Con người khao khát biết mình, biết chân lý, biết sự thật, biết được ý nghĩa cuộc sống, biết được cùng đích đời mình. Có nhiều cách chúng ta có thể biết mình, biết mình do người khác nhận xét, biết mình do phản tỉnh, biết mình dựa vào cách Chúa nhìn về mình. Ngoài những điều này, bạn có thể biết thêm về mình nhờ 3 yếu tố: Biết giá trị mình sống cho, biết đối tượng mình sống cho và biết do được phản chiếu ánh sáng.
Biết mình là biết giá trị mà tôi sống cho
Nếu chúng ta đi tìm những cặp từ trái nghĩa trong đoạn Lời Chúa hôm nay, ta sẽ thấy có rất nhiều cặp từ mang nghĩa trái ngược: “hay và dở; hư nát và bất diệt; phải chết và bất tử, chiến thắng của thần dữ và chiến thắng của Đức Ki-tô; mù và sáng, quả tốt và quả sâu.” Nổi lên trên những ý tưởng trái ngược này là câu hỏi: Tôi sống cho điều gì, tôi sống cho ai?
Những giá trị mà bạn biết được bộc lộ qua những thử thách. Qua thử thách bạn biết được con người thật của bạn, bạn biết được giá trị mà bạn theo đuổi. Giá trị mà tôi sống có bảo đảm, có vững chắc hay không tùy thuộc vào giá trị đó có được kinh qua thử thách hay không. Đời sống của một người trung tín với Chúa sẽ được thử thách khi họ đối diện với những bách hại. Những bách hại đến từ bên ngoài và bên trong.
Niềm tin của Israel được chứng thực qua thử thách. Chính qua những thử thách trên hành trình đi trong sa mạc giúp cho họ biết rằng họ có tin tưởng, yêu mến Thiên Chúa thật hay không. Đời sống đức tin của bạn cũng có muôn vàn những thử thách, thử thách lớn nhất là bạn có vượt qua chính bạn để có thể sống, và làm chứng cho niềm tin của bạn vào Chúa hay không. Đôi khi thử thách của đức tin không đến từ bên ngoài nhưng đến từ bên trong, nó đến từ việc bạn có đủ bình an để làm điều thiện khi người khác không làm như bạn hay không. Nói một cách đơn giản bạn có tự do trước những giới hạn của người khác hay không. Giới hạn của người khác đôi khi cho bạn biết lòng quảng đại của bạn.
Tôi biết về giá trị mà tôi đang sống, không chỉ là tôi biết tôi đang sống cho điều gì nhưng là tôi biết mình đang sống cho ai, ai là đối tượng cho niềm hy vọng của tôi.
Biết mình là biết tôi sống cho ai
Giá trị mà tôi xác tín là quan trọng. Một sinh viên biết ý nghĩa của việc học khác với một sinh viên học vì bị ép buộc. Một người đàn ông làm việc vì lòng yêu mến gia đình của mình khác với việc tôi làm vì tôi phải làm. Nếu tôi làm công việc này vì tôi phải làm thì tôi sẽ cảm thấy nặng nề, còn nếu tôi làm vì lòng yêu mến và vì những giá trị thiêng liêng hơn tôi sẽ chọn lựa một thái độ khác. Cũng thế, nếu tôi sống đạo vì lòng yêu mến Chúa, Giáo Hội và các linh hồn khác với việc tôi đi lễ và sống đạo vì Lề Luật. Nói cách khác đối tượng mà tôi hướng đến sẽ cho tôi cách thức, sức mạnh và động lực để tôi sống. Như thế mục tiêu sẽ quyết định phương tiện và thái độ sống. Bản chất của bạn sẽ định hướng chọn lựa của bạn. Đồng thời đối tượng đó cũng trắc nghiệm cách sống của tôi. Đây cũng chính là động lực mà thánh Phao-lô mời gọi tín hữu Cô-rin-tô [2]. Sự chiến thắng của Đức Ki-tô trước sức mạnh của tử thần là niềm động lực cho các tín hữu kiên tâm bền chí. Như thế, việc tôi biết tôi sống cho ai và tôi hy vọng vào ai sẽ giúp cho bạn vượt qua được những trở ngại trong đời sống đức tin và kiên vững trung tín với Chúa cho đến cùng.
Biết mình là biết tôi được chiếu ánh sáng
Như ở phần trước đã nói, bạn có nhiều cách để biết mình, bạn biết mình do bạn biết về mình, do người khác nói về mình và do Thiên Chúa mặc khải cho bạn biết. Bên cạnh đó bạn biết mình do bạn quy chiếu đời sống của bạn với một tiêu chuẩn, ánh sáng và Đức Ki-tô. Nhờ Đức Ki-tô chiếu sáng mà bạn biết bạn rõ hơn.
Tin Mừng cho bạn thấy có 3 từ rất quan trọng: Dẫn đường, che phủ và sinh hoa trái tương xứng.
Dẫn đường: Tôi chỉ trở thành kẻ dẫn đường cho người khác nếu tôi là kẻ biết đường, biết mục đích và biết cách dẫn. Nếu tôi không biết đường, không biết mục đích, không biết cách dẫn, tôi sẽ làm cho người khác sa xuống hố. Hình ảnh mù và sáng cho chúng ta thấy sự đối kháng. Chúa Giê-su là ánh sáng và là Đấng cho chúng ta biết chúng ta là ai. Ngài là tiêu chuẩn khách quan, là chân lý và theo Ngài chúng ta không đi trong tối tăm.
Che phủ: Hình ảnh cái xà và cái rác là hình ảnh có tính phóng đại. Chuyện của mình thì khó thấy nhưng chuyện của người khác thì chúng ta dễ biết hơn. Chúng ta dễ thấy giới hạn của người khác nhưng lại không nhận ra giới hạn của mình mình. Chúng ta dễ thấy cây mà không thấy rừng. Nguyên nhân của sự che phủ có thể là do bạn không thấy về mình hoặc do những giá trị khác che phủ cuộc đời bạn. Khi bạn bị quyến luyến lệch lạc, hoặc định kiến về một ai đó, cái nhìn của bạn sẽ mất đi sự sáng suốt. Ngay cả nhận thức của bạn về chính mình cũng bị ảnh hưởng bởi cái nhìn vì cái nhìn của bạn thiếu trong suốt. Tội lỗi cũng làm cho cái nhìn của bạn không còn trong suốt đối với Chúa và tha nhân.
Sinh hoa trái tương xứng: Đây là cách nhìn mang tính nhân quả. Cây tốt sinh trái tốt, cây xấu sinh trái sâu. Những điều bên ngoài phản ánh tâm hồn bên trong. Kết quả của điều xấu là hệ quả của những điều bên trong. Một tâm hồn thánh thiện đạo đức thì phản chiếu ra bên ngoài những giá trị tích cực, còn một tâm hồn đầy thù hận thì sẽ gieo rắc sự chết, sự chia rẽ và đau khổ.
Tuy nhiên có những hành động mà con người bị cuốn theo vượt ra ngoài ý muốn tự do của con người. Vì thế may mắn cho chúng ta, chúng ta có Chúa Giê-su, Đấng nhờ ân sủng của Ngài đã biến đổi tận nguồn gốc và dẫn chúng ta bước vào trong tương quan của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Ánh sáng mà bạn có được không chỉ là ánh sáng từ chân lý nhưng là ánh sáng của lòng thương xót. Nói như Đức Thánh Cha Phanxicô [3]:
“Ánh sáng tự trái tim bị đâm thâu của Chúa Giê-su là niềm hy vọng của chúng ta. Niềm hy vọng phát sinh từ tình yêu và dựa trên tình yêu tuôn trào từ Trái tim Chúa Giêsu bị đâm thâu trên thập giá: ‘Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hòa giải với Người, phương chi bây giờ chúng ta đã được hòa giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy.’” [4]
Nếu bạn nhìn vào bức tranh thế giới hôm nay với rất nhiều những vấn đề nảy sinh: chủ nghĩa quốc gia, phân biệt chủng tộc, chiến tranh, di dân. Điều này có thể dẫn đến “toàn cầu hóa về sự vị kỷ và tính cục bộ.” Các quốc gia chỉ nghĩ tới lợi ích của mình mà không quan tâm đến những giá trị cốt lõi. Các gia đình chỉ bận tâm đến vấn đề cơm áo, gạo tiền mà không chăm lo đến đời sống đức tin, truyền thống đạo đức và những giá trị siêu nhiên.
Nếu chúng ta mượn cách nói của phó tổng thống Mỹ, J. Vance phát biểu trong Hội Nghị An Ninh Munich [5] để nói: “sự suy thoái về những giá trị dân chủ không phải là sự suy thoái đến từ bên ngoài nhưng là sự suy thoái đến từ bên trong.” Cũng thế, sự suy thoái của đời sống đức tin không phải là sự suy thoái từ bên ngoài nhưng là sự suy thoái từ bên trong. Sự suy thoái từ niềm tin, lòng yêu mến, giá trị thiêng liêng, những giá trị cốt lõi. Đây là một dạng thức mà chúng ta gọi là sự mù lòa của niềm tin và trái tim. Chúng ta có thể rút ra điều gì từ việc chúng ta rút cuộc sống của mình từ kho tàng xấu. Thực trạng xã hội và thế giới hôm nay mời gọi bạn hãy hướng lên. Năm Thánh là thời gian mở lòng và hướng nhìn lên cao. Mở lòng ra cho sự thúc đẩy của Thần Khí và hướng nhìn lên Đức Ki-tô như là đích đến của cuộc hành trình.
Lm. Gioan Phạm Duy Anh, S.J.
[1] – Tôn Tử Binh Pháp, Thiên 3 – Mưu Công
[2] – 1 Cr 15, 54-58
[3] – Spes non confundit – Hy Vọng Không Làm Thất Vọng, Số 3
[4] – Rm 5,10
[5] – https://foreignpolicy.com/2025/02/18/vance-speech-munich-full-text-read-transcript-europe/
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.